Khi cả ba máy bơm chạy hết công suất giữa trận mưa lớn nhất năm, Toàn nghe từ dưới miệng cống ngầm vọng lên một tiếng hát, giọng phụ nữ, ngân dài, buồn, không rõ lời, như ai đó hát ru dưới lòng thành phố.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, thành phố, trạm bơm và những người trong đó đều do mình đặt ra. Truyện có một phần giải thích khoa học, nhưng phần cuối thì mình để bạn tự quyết.
Trạm bơm mùa mưa
Toàn làm kỹ thuật viên vận hành ở một trạm bơm chống ngập của thành phố, nằm cạnh một con kênh lớn. Mùa khô trạm vắng, chỉ trực máy, lau dầu. Mùa mưa thì khác: mưa to là bật máy, bơm nước từ hệ thống cống ngầm ra kênh, không để phố ngập.
Trạm có ba máy bơm khổng lồ, mỗi máy to bằng một chiếc ô tô, chạy lên là cả nền nhà rung, tiếng ầm ầm át cả tiếng mưa. Bên cạnh là bể hút, một hố bê tông sâu hun hút nối với đường cống chính chạy dưới lòng phố.
Toàn làm ca đêm vì ca đêm mưa to hay bất ngờ. Anh quen với tiếng máy, quen mùi bùn và dầu, quen cả những con chuột cống to như mèo chạy dọc thành bể.
Đêm ấy là trận mưa lớn nhất năm. Mười một giờ, anh bật cả ba máy. Nước trong bể hút xoáy thành vòng, gầm gào. Và lẫn trong tiếng gầm ấy, anh nghe một tiếng hát.
Giọng hát dưới lòng phố
Lúc đầu anh nghĩ mình nghe nhầm. Tiếng máy quá to, tai ù đi. Nhưng khi anh bước ra mép bể hút, tiếng hát rõ hơn. Giọng phụ nữ, ngân dài, trầm, không thành lời, như một câu hát ru kéo mãi không dứt. Nó vọng lên từ miệng cống chính.
Anh rọi đèn pin xuống. Chỉ có nước bùn cuồn cuộn chảy vào bể. Tiếng hát vẫn vang lên, lúc gần lúc xa, có lúc như ngay dưới chân anh, có lúc như từ tận cuối thành phố.
Anh tắt một máy. Tiếng hát nhỏ lại. Tắt máy thứ hai, tiếng hát gần như tắt. Bật lại, tiếng hát vang lên. Cứ như cái giọng ấy chỉ cất lên khi nước chảy mạnh nhất.
Sáng ra, Toàn hỏi ông Mười, kỹ thuật viên già nhất trạm. Ông Mười cười, bảo trạm này ai trực mùa mưa cũng nghe, người ta gọi là cô hát dưới cống. Có người sợ xin nghỉ, có người quen rồi thì nghe như nghe radio.
Tìm nguồn âm thanh
Toàn không chịu nghe như radio. Anh học kỹ thuật, anh muốn biết. Mùa khô năm ấy, khi nước cạn, anh xin đi cùng đội nạo vét cống, đi dọc đường cống chính bằng xuồng nhỏ, đèn đội đầu soi từng đoạn.
Cống chính là một đường hầm bê tông vòm cao, nối với vô số cống nhánh như mạch máu. Ở một đoạn gần chợ cũ, anh phát hiện một chỗ lạ: đường cống mới đổ bê tông nối vào một đoạn cống cũ xây gạch từ thời trước, vòm thấp, tường gạch rêu phong.
Ở chỗ nối ấy có một khe hở hẹp, gió lùa qua. Toàn thổi thử một hơi vào khe. Từ trong đoạn cống cũ vọng lại một tiếng ngân dài, trầm, giống hệt tiếng hát anh nghe đêm mưa. Đoạn cống gạch cũ hoạt động như một ống sáo khổng lồ.
Anh về viết báo cáo: khi máy bơm chạy mạnh, nước rút nhanh tạo luồng khí đi qua khe nối, làm đoạn cống cũ cộng hưởng thành âm thanh như tiếng hát. Ông Mười đọc xong, gật gù, bảo vậy là hết ma rồi. Nhưng ông nói thêm một câu, nghe lạ tai: chỗ cống cũ ấy, ngày xưa là bến nước của xóm giặt.
Bến nước xóm giặt
Toàn hỏi về xóm giặt. Ông Mười kể ngày xưa trước khi thành phố lấp kênh làm đường, chỗ ấy là một con rạch nhỏ, hai bên là xóm của những người phụ nữ nhận giặt đồ thuê. Họ giặt suốt ngày, vừa giặt vừa hát, tiếng hát dọc con rạch nghe tới tận chợ.
Rồi người ta lấp rạch, xây cống, xóm giặt giải toả, mỗi người đi một nơi. Con rạch thành đường cống gạch nằm dưới lòng phố, và mấy chục năm sau thì được nối vào cống bê tông mới.
Toàn nghe mà thấy lòng lạ lạ. Anh biết tiếng hát là do gió qua khe hở. Anh đã thổi thử, đã nghe tận tai. Nhưng anh không giải thích được vì sao âm thanh do gió tạo ra lại có giai điệu, có lúc lên lúc xuống, có lúc ngừng như người lấy hơi.
Khe hở ấy được lên kế hoạch bịt lại trong đợt sửa chữa sau. Toàn đồng ý, vì khe hở làm thất thoát áp lực. Nhưng anh xin được có mặt khi người ta bịt.
Đêm mưa cuối cùng trước khi bịt
Đêm mưa cuối mùa, trước ngày sửa chữa, Toàn trực một mình. Anh bật cả ba máy. Tiếng hát vang lên từ miệng cống, trầm, dài, buồn như mọi lần. Anh ngồi xuống mép bể hút, tắt đèn pin, nghe.
Lần này anh nghe kỹ. Không phải một giọng. Nhiều giọng, đan vào nhau, giọng này ngân thì giọng kia nối, như những người đứng dọc một con rạch hát đối đáp. Có cả tiếng nước đập, tiếng chày vồ nện quần áo trên đá, xa xăm.
Anh không biết đó là gió, là nước, hay là gì. Anh chỉ ngồi nghe tới khi mưa tạnh, máy tắt, tiếng hát nhỏ dần, nhỏ dần, rồi im.
Hôm sau người ta bịt khe hở. Mùa mưa năm sau, máy chạy hết công suất, trạm bơm chỉ còn tiếng gầm của nước. Toàn thấy nhớ. Có một đêm, anh mở điện thoại, phát một bài hát ru cũ, đặt cạnh miệng cống, để nó vang xuống lòng thành phố. Và anh thề là trong tiếng nước gầm, có một giọng rất nhỏ hát theo.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao đường ống, đường cống có thể phát ra âm thanh như tiếng hát?
Khi luồng khí hay nước đi qua một khe hẹp, nó tạo ra dao động, và một đoạn ống dài có thể cộng hưởng khuếch đại dao động ấy thành âm thanh trầm, ngân dài, giống cách ống sáo phát tiếng. Thay đổi tốc độ dòng chảy làm âm thanh lên xuống như có giai điệu.
Trạm bơm chống ngập hoạt động như thế nào?
Nước mưa từ đường phố chảy vào hệ thống cống, dồn về bể hút của trạm, máy bơm hút nước từ bể đẩy ra sông hay kênh. Người vận hành theo dõi mực nước để bật tắt máy đúng lúc, nhất là khi mưa to trùng triều cường.
Vì sao não người hay nghe ra giọng nói trong tiếng ồn?
Não rất nhạy với giọng người, nên trong tiếng ồn đều đều như mưa, máy chạy, gió, nó dễ nhặt ra những mẫu âm thanh giống tiếng nói hay tiếng hát. Hiện tượng này rất phổ biến và không có gì bất thường.
Những con rạch bị lấp ở đô thị đi đâu?
Nhiều con rạch, kênh nhỏ trong quá trình đô thị hoá bị lấp hoặc cống hoá, dòng nước vẫn chảy bên dưới mặt đường trong hệ thống cống. Vì vậy dưới nhiều khu phố cũ vẫn còn dấu vết của mạng lưới sông nước xưa.
Truyện này có giải thích được bằng khoa học không?
Phần tiếng hát do gió qua khe hở là cơ chế có thật về cộng hưởng âm thanh. Còn câu chuyện về xóm giặt và những giọng hát thì là phần hư cấu của Chuyện Ma, để người nghe tự cảm nhận.