Cả xóm tối đen như mực, chỉ có một ô cửa sổ sáng ánh đèn dầu vàng ấm, và một bà cụ đứng ở cửa vẫy anh thợ điện vào uống chén trà cho đỡ lạnh.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, xóm, con đường và những người trong đó đều do mình đặt ra. Một truyện về ánh sáng, bóng tối, và một chén trà không biết từ đâu.
Cuộc gọi sửa sự cố lúc mười một giờ
Đạt làm thợ điện trực sự cố ở một điện lực huyện. Tổ trực đêm có ba người, một xe bán tải chở thang, dây, đồ nghề. Đêm nào trời giông là đêm đó điện thoại reo liên tục: cây đổ vào dây, cầu chì nổ, chim làm tổ trên trụ.
Đêm ấy mưa giông vừa dứt, điện thoại báo cả một xóm cuối huyện mất điện. Hai đồng nghiệp đang xử lý một sự cố khác ở thị trấn, Đạt chạy xe máy đi trước để dò tìm chỗ hỏng.
Xóm nằm sâu trong cánh đồng, đường đất trơn trượt. Tới đầu xóm, Đạt tắt máy xe. Tối đặc. Không một ánh đèn, không tiếng quạt, không tiếng tivi. Chỉ có tiếng ếch nhái và tiếng nước nhỏ giọt từ mái tôn.
Anh đội đèn pin trên mũ, đi dọc đường dây. Tới trụ thứ năm, anh thấy một cành tre lớn đổ đè lên dây, làm đứt cầu chì. Việc không khó, nhưng phải chờ đồng nghiệp mang thang tới.
Ô cửa sổ sáng đèn
Đạt ngồi xuống bên vệ đường chờ. Gió sau mưa lạnh buốt, áo anh ướt đẫm. Anh nhìn quanh, và thấy ở cuối xóm, sau hàng cau, có một ô cửa sổ sáng ánh đèn dầu, vàng ấm, lung linh.
Anh thấy lạ, vì cả xóm đều tối. Rồi anh nghĩ chắc nhà ấy có đèn dầu để dự phòng. Đúng lúc đó, cửa nhà mở ra, một bà cụ bước ra hiên, vẫy tay gọi: chú thợ điện ơi, vào đây uống chén trà cho ấm.
Đạt đi tới. Căn nhà ba gian mái ngói, hiên rộng lát gạch đỏ, cột gỗ lên nước bóng loáng. Trong nhà, một ngọn đèn dầu đặt trên chiếc bàn gỗ, cạnh bộ ấm chén men lam. Bà cụ tóc búi, áo cánh nâu, mời anh ngồi chõng tre.
Bà rót trà. Trà xanh nấu bằng nồi đồng, nước xanh trong, thơm mùi lá. Bà hỏi anh làm nghề này lâu chưa, có vất vả không, có hay phải đi đêm không. Đạt uống hai chén, người ấm hẳn lại, kể chuyện nghề cho bà nghe.
Chuyện bà cụ kể
Bà cụ nghe, gật gù, rồi bảo: ngày xưa xóm này chưa có điện đâu chú, tối là cả xóm thắp đèn dầu, ngồi hiên nói chuyện. Bà nói rồi nhìn ra ngoài sân, nơi những hàng cau đen sẫm đứng im.
Bà kể ngày bà còn trẻ, chồng bà đi xa làm ăn, hẹn khi nào xóm có điện thì về. Bà chờ, đêm nào cũng thắp đèn dầu để ông nhìn thấy đường về. Đạt hỏi rồi ông có về không. Bà cụ cười, không trả lời.
Ngoài đường có tiếng xe bán tải. Đồng nghiệp tới. Đạt đứng dậy cảm ơn bà. Bà cụ đưa cho anh một chiếc chén men lam, bảo cầm theo, mai mốt có dịp ghé qua thì trả. Anh ngại, nhưng bà cứ dúi vào tay. Anh bỏ vào túi áo, chào bà rồi ra.
Ba anh em dựng thang, gỡ cành tre, thay cầu chì. Gần một giờ sáng, đèn cả xóm bật sáng một lượt. Đạt quay lại nhìn về phía cuối xóm, phía hàng cau. Ở đó tối om. Ô cửa sổ đèn dầu đã tắt.
Nền đất trống sau hàng cau
Đạt nghĩ chắc bà cụ đã đi ngủ. Nhưng anh thấy lạ: cả xóm có điện rồi, sao nhà bà không bật đèn. Anh bảo đồng nghiệp chờ một chút, rồi đi bộ về phía hàng cau.
Sau hàng cau không có căn nhà nào. Chỉ có một nền đất cao, cỏ mọc kín, vài viên gạch đỏ vỡ vụn, một gốc cột gỗ mục. Ánh đèn pin quét qua, những con dế giật mình nhảy tán loạn.
Anh đứng lặng, rồi đưa tay vào túi áo. Chiếc chén men lam vẫn ở đó, nằm gọn trong lòng bàn tay, còn hơi ấm như vừa rót trà.
Đồng nghiệp gọi, anh chạy về. Anh không kể gì. Cả đường về, anh giữ tay trong túi áo, nắm chặt chiếc chén, như sợ nó tan biến mất.
Chiếc chén men lam
Mấy hôm sau, Đạt quay lại xóm vào ban ngày. Anh hỏi một ông cụ đang ngồi phơi nắng đầu ngõ về căn nhà sau hàng cau. Ông cụ kể ngày xưa đó là nhà bà Hai, người góa chồng sớm, chồng đi xa không về. Đêm nào bà cũng thắp đèn dầu ngồi chờ.
Ông cụ bảo bà Hai mất từ trước khi xóm có điện, nhà cửa sau đó đổ nát, con cháu không còn ai. Ông cụ nói thêm, nghe kể ngày xóm kéo điện về, người ta trồng trụ điện đầu tiên ngay trước cổng nhà bà.
Đạt mang chiếc chén men lam ra nền đất cũ, đặt lên gốc cột gỗ mục, rót vào một ít trà anh mang theo, thắp một nén hương. Anh nói rất nhỏ: xóm có điện rồi bà ơi, bà nghỉ đi.
Anh vẫn làm thợ điện trực sự cố. Có những đêm mưa giông, xóm nào đó mất điện, anh chạy tới, cả xóm tối om, anh lại thấy mình đưa mắt tìm một ô cửa sổ đèn dầu. Anh chưa thấy lại. Nhưng mỗi lần sửa xong, đèn bật sáng, anh vẫn quen miệng nói một câu: có điện rồi, ai chờ thì về được rồi.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao bóng tối khi mất điện khiến con người sợ hãi?
Khi mất ánh sáng, ta mất phần lớn thông tin về xung quanh và phải dựa vào tai, vốn dễ phóng đại âm thanh lạ. Nỗi sợ bóng tối có gốc rễ từ rất xa xưa, khi bóng đêm đồng nghĩa với nguy hiểm khó lường.
Thợ điện trực sự cố ban đêm thường gặp những việc gì?
Họ xử lý cây đổ vào dây, cầu chì nổ, thiết bị hỏng do sét hay quá tải, thường vào lúc mưa giông. Đây là công việc nguy hiểm, phải cắt điện đúng quy trình và có bảo hộ, người dân thấy dây đứt thì tránh xa và báo cho điện lực.
Đèn dầu ngày xưa được dùng như thế nào?
Đèn dầu có bầu đựng dầu hoả, bấc vải hút dầu lên và cháy bên trong bóng thuỷ tinh che gió. Trước khi có điện, đây là nguồn sáng chính của nhiều làng quê, nên ánh đèn dầu gắn với ký ức của nhiều thế hệ.
Vì sao người ta hay để đèn sáng chờ người đi xa?
Ánh đèn trong nhà là tín hiệu của sự chờ đợi và chỗ để trở về. Nhiều truyện dân gian và văn chương dùng ngọn đèn như hình ảnh của lòng thuỷ chung, của người ở nhà không quên người đi.
Truyện ma kiểu được mời vào nhà rồi nhà biến mất có từ đâu?
Đây là mô típ quen thuộc trong truyện kể dân gian nhiều nước, nhân vật đi đêm được mời vào một nơi ấm áp, sáng ra chỉ còn hoang phế. Truyện này là truyện hư cấu do Chuyện Ma sáng tác dựa trên mô típ ấy.