Cuốn sổ góp ý bìa xanh ở quầy nhà nghỉ có hơn một trăm lời khen, và gần một nửa trong số đó cảm ơn cùng một người, một bà cụ mà nhà nghỉ chưa từng thuê bao giờ.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu, hòn đảo và nhà nghỉ trong truyện đều do mình đặt ra. Truyện này mình kể chủ yếu qua những dòng chữ khách để lại, nên bạn cứ hình dung mình đang ngồi cạnh quầy, lật từng trang cùng người chủ mới.
Nhà nghỉ cũ và người chủ mới
Vy mua lại nhà nghỉ vào cuối mùa gió bấc. Đó là một ngôi nhà hai tầng quét vôi trắng, cửa sổ sơn xanh, nằm trên con dốc nhìn xuống bến tàu của một hòn đảo nhỏ. Ông chủ cũ đã già, con cái ở đất liền gọi về.
Ông bán lại với giá rẻ, chỉ xin một điều: giữ tên nhà nghỉ, đừng đổi. Vy đồng ý ngay, cô vốn mê cái tên mộc mạc ấy.
Ngày bàn giao, ông dẫn Vy đi một vòng. Tám phòng, một gian bếp nhỏ, một sân phơi nhìn ra biển. Cuối cùng ông đặt lên quầy một cuốn sổ bìa xanh đã sờn mép. Ông bảo đây là sổ góp ý, khách viết từ ngày mở cửa tới giờ, cô giữ lấy, đọc lúc rảnh.
Mấy tuần đầu Vy bận tối mắt. Sửa ống nước, thay rèm, chụp ảnh đăng lên mạng. Phải tới một đêm biển động, tàu không chạy, khách trả phòng hết, cô mới pha một ấm trà, ngồi ở quầy và mở cuốn sổ ra đọc.
Những dòng cảm ơn kéo dài nhiều năm
Trang đầu là chữ của một đôi vợ chồng trẻ đi tuần trăng mật. Họ khen phòng sạch, khen bữa sáng có bánh canh. Rồi một dòng cuối viết vội: cảm ơn bà cụ đã mang trà gừng lên phòng lúc nửa đêm, vợ con say sóng cả ngày, uống xong ngủ được một mạch.
Vy lật tiếp. Một nhóm sinh viên đi phượt viết bằng bút dạ, chữ to, vẽ cả mặt cười: bão về mất điện, bà cụ áo nâu gõ cửa từng phòng phát nến và trà gừng, bà dễ thương quá. Một anh thợ lặn viết gọn: đêm lạnh, trà gừng ngon, cảm ơn bà.
Có những trang cách nhau nhiều năm, mực đã ngả màu, nét chữ đủ kiểu, người viết đủ tuổi. Nhưng cứ năm sáu trang lại có một dòng giống nhau tới lạ: một bà cụ nhỏ người, áo bà ba nâu, tóc búi, mang trà gừng lên phòng lúc khách mệt nhất. Không ai ghi tên bà. Hình như không ai hỏi.
Vy đặt cuốn sổ xuống. Ông chủ cũ đã kể rõ: nhà nghỉ chỉ có ông và một cậu cháu trai phụ việc, chưa từng thuê người phụ nữ nào. Gió ngoài kia rít qua khe cửa chớp. Bất giác cô nhìn về phía gian bếp tối om.
Cuộc điện thoại với ông chủ cũ
Sáng hôm sau Vy gọi cho ông chủ cũ. Cô đọc cho ông nghe vài dòng trong sổ. Đầu dây bên kia im rất lâu, lâu tới mức cô tưởng mất sóng. Rồi ông nói khẽ, giọng run: đó là má của ông.
Ông kể bà cụ cả đời bán trà gừng ở bến tàu cũ, gánh hai thùng nước nóng từ sáng sớm, mời những người đi biển về một chén cho ấm bụng. Bà ước có một căn nhà nhỏ trên dốc để khách xa có chỗ nghỉ chân. Ông dành dụm nhiều năm mới xây được nhà nghỉ. Ngày khánh thành, bà đã không còn nữa.
Ông bảo hồi mới mở, khách khen bà cụ, ông tưởng họ nhầm với ai trong xóm. Rồi đọc mãi, ông hiểu. Ông không kể với ai, chỉ đặt cuốn sổ ở quầy, như để má có chỗ nghe người ta khen. Ông dặn Vy: cô đừng sợ, má ông hiền lắm, chỉ thương khách đi xa.
Cúp máy, Vy đi xuống bếp. Trên kệ có một chiếc ấm nhôm cũ móp méo mà cô định vứt đi từ tuần trước. Cô rửa nó sạch sẽ, đặt lại chỗ cũ, bên cạnh một túi gừng tươi mua ở chợ đảo.
Đêm bão và chén trà gừng trước cửa phòng
Tháng sau có bão. Tàu không chạy ba ngày, nhà nghỉ còn bốn phòng khách kẹt lại. Đêm thứ hai mất điện, Vy sốt, nằm co trong căn phòng nhỏ sau quầy, nghe biển gầm từng đợt như có ai đập cửa. Cô định dậy đi phát nến cho khách mà không nhấc nổi người.
Gần nửa đêm, có tiếng gõ cửa rất khẽ, ba tiếng, chậm rãi. Mùi gừng nướng thơm nồng len qua khe cửa. Vy gượng dậy mở ra. Hành lang tối, không có ai. Dưới chân cô là một chén trà gừng còn bốc khói, đặt trên chiếc đĩa sứ cũ mẻ một góc, cạnh một ngọn nến đã thắp.
Cô bưng chén trà, nhìn dọc hành lang. Trước cửa bốn phòng có khách, phòng nào cũng có một ngọn nến cháy đều, và ở cuối hành lang, trong ánh nến lay lắt, cô thoáng thấy một vạt áo nâu khuất sau góc cầu thang, nhẹ như gió lùa.
Vy uống hết chén trà. Vị gừng cay xé, ấm từ cổ xuống bụng. Cô ngủ một giấc tới sáng, dậy thì cơn sốt đã lui.
Dòng chữ mới nhất trong cuốn sổ bìa xanh
Bão tan, khách lục tục ra bến tàu. Một cô giáo về hưu dừng lại ở quầy, viết vào sổ: đêm mất điện mà có nến, có trà gừng, cảm ơn nhà nghỉ chu đáo, nhất là bà cụ, nhớ giữ gìn sức khoẻ cho bà. Vy đọc, cười, không nói gì.
Từ đó nhà nghỉ có thêm một món không ghi trong thực đơn. Đêm nào trời trở gió, Vy cũng nấu một nồi trà gừng, rót sẵn vào chiếc ấm nhôm cũ. Sáng ra, ấm vơi đi một ít, dù cô chưa kịp mời ai.
Cuối mùa, Vy mở cuốn sổ ra trang trắng cuối cùng và viết, lần đầu tiên bằng chữ của chủ nhà: cháu cảm ơn bà, cháu sẽ giữ nghề, giữ cả ấm trà. Cô gấp sổ lại, đặt về chỗ cũ trên quầy.
Sáng hôm sau, ngay dưới dòng chữ của cô, có một vệt mực nâu nhạt hình tròn, đúng bằng đáy một chén trà, như ai đó vừa đặt chén xuống để đọc cho kỹ.
Câu hỏi thường gặp
Trà gừng có giúp đỡ say sóng không?
Gừng được dùng trong dân gian nhiều nơi để làm ấm bụng và đỡ buồn nôn, nhiều người thấy dễ chịu hơn sau một chén trà gừng. Tuy vậy mỗi người mỗi khác, người có bệnh dạ dày, đang mang thai hay dùng thuốc nên hỏi bác sĩ trước.
Vì sao những lời kể giống nhau từ nhiều người lạ lại làm ta tin?
Khi nhiều người không quen nhau kể cùng một chi tiết, não ta coi đó là bằng chứng mạnh. Trong truyện ma, cách kể qua sổ sách hay thư từ tận dụng đúng cảm giác này để khiến người nghe rợn mà vẫn thấy hợp lý.
Vì sao mùi hương dễ gợi nhớ người thân đã mất?
Khứu giác nối khá trực tiếp với vùng não lưu giữ cảm xúc và ký ức. Một mùi quen như gừng nướng, dầu gió hay nhang trầm có thể kéo về cả một khung cảnh cũ chỉ trong tích tắc.
Vì sao các hòn đảo nhỏ hay có nhiều truyện ma?
Đảo nhỏ thường cách biệt, tàu thuyền phụ thuộc thời tiết, đêm tối và gió biển lớn. Cộng đồng gắn bó với biển và những chuyến đi không về nên có nhiều chuyện kể truyền miệng để nhớ người xưa và nhắc nhau cẩn trọng.
Sổ góp ý ở nhà nghỉ có từ bao giờ?
Nhiều nhà trọ, quán trọ xưa đã có sổ ghi khách hoặc sổ để khách viết cảm nghĩ, vừa để quản lý vừa để giữ kỷ niệm. Với người làm nghề lưu trú, đọc lại những trang sổ cũ cũng giống như đọc lại lịch sử ngôi nhà.