ChuyenMa.comPodcast truyện ma kể lúc đêm khuya
Đồ vật bị ám

Cây bút lông của ông đồ mỗi đêm tự viết một chữ

Cháu gái dọn án thư của ông đồ quá cố và thấy cây bút lông mỗi sáng lại ướt mực. Trên tờ giấy dó trải sẵn, mỗi đêm hiện thêm một chữ Hán Nôm nét run run.

🎙️
📑 Nội dung theo chương
  1. 0:28 Án thư của ông
  2. 1:23 Chữ thứ nhất
  3. 2:11 Mỗi đêm thêm một chữ
  4. 3:10 Người em trai bên kia sông
  5. 3:56 Sáu tờ giấy dó qua sông
  6. 5:00 Câu hỏi thường gặp
🔊 Bản audio (lồng nhạc nền)

Cả nhà không ai biết viết chữ Hán Nôm, vậy mà sáng nào trên án thư của ông cũng có thêm một chữ mới, mực còn ướt, nét bút run run đúng như những năm cuối đời ông.

Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu, ông đồ, đứa cháu gái và ngôi làng trong truyện đều do mình đặt ra. Đây là một truyện ma nhẹ nhàng, có mùi mực tàu và giấy dó, hợp để nghe khi trời đã khuya mà lòng còn chưa muốn ngủ. Mình kể nhé.

Án thư của ông

Ông nội của Hạnh là ông đồ cuối cùng của làng. Mấy chục năm, cứ gần Tết là ông ngồi ở đầu chợ huyện, trải chiếu, mài mực, viết câu đối, viết chữ Phúc chữ Lộc cho người ta mang về treo. Ngày thường ông dạy chữ cho mấy đứa trẻ trong xóm, dạy không lấy tiền.

Ông mất vào cuối mùa thu, thọ tám mươi bảy tuổi. Hạnh làm thiết kế ở thành phố, xin nghỉ một tháng về quê cùng bố dọn dẹp gian nhà ngang nơi ông ở. Trong gian ấy chỉ có một chiếc giường tre, một tủ sách, và chiếc án thư thấp bằng gỗ mít bóng lên vì tay người.

Trên án thư, mọi thứ vẫn y như ông để: nghiên mực đá, thỏi mực tàu mòn vẹt, ống bút tre cắm mấy cây bút lông, và một xấp giấy dó vuông vức. Cây bút ông dùng nhiều nhất là cây cán trúc đã ngả màu mật ong, lông bút mềm và nhọn.

Bố bảo cứ để đó, qua giỗ đầu rồi tính. Hạnh trải một tờ giấy dó lên án thư cho khỏi trống trải, rồi khép cửa gian nhà ngang lại.

Chữ thứ nhất

Sáng hôm sau, Hạnh mở cửa thì thấy trên tờ giấy dó có một chữ. Một chữ Hán Nôm duy nhất, viết giữa tờ giấy, nét đậm nhạt, đuôi nét hơi run. Cây bút cán trúc nằm ngang trên nghiên, lông bút còn ướt mực, nghiên mực có một vũng mực mới mài.

Hạnh gọi bố. Bố đứng nhìn rất lâu, rồi bảo đó đúng là nét chữ của ông, nét của những năm cuối khi tay ông đã run. Bố không đọc được chữ ấy. Cả nhà không ai đọc được. Đời bố đã học chữ quốc ngữ, đời Hạnh thì càng không.

Hạnh chụp ảnh chữ ấy, gửi lên một nhóm yêu thư pháp trên mạng nhờ đọc giúp. Người ta trả lời ngay: chữ Ngã, nghĩa là ta, là mình. Hạnh ngồi trên bậc thềm, điện thoại trong tay, nổi da gà dù nắng thu còn ấm.

Tối hôm đó, Hạnh trải một tờ giấy mới, mài sẵn một ít mực, rồi khép cửa. Cô không dám khóa.

Mỗi đêm thêm một chữ

Đêm thứ hai, chữ Hữu, nghĩa là có. Đêm thứ ba, chữ Thác, nghĩa là sai, là lỗi. Đêm thứ tư, chữ Ư, nghĩa là với, đối với. Hạnh xếp bốn tờ giấy thành hàng trên chiếu, ghép nghĩa lại: mình có lỗi với.

Câu chưa xong. Hạnh không ngủ được. Đêm thứ năm, cô quyết định ngồi canh, tắt đèn, ngồi ở góc gian nhà ngang, quấn chăn, mắt nhìn chằm chằm vào án thư. Ngoài vườn dế kêu, gió lùa qua bụi tre sau nhà.

Gần hai giờ sáng, Hạnh nghe thấy tiếng thỏi mực cọ vào nghiên đá, đều đều, chậm rãi, như tiếng một người già đang mài mực mà không vội. Cô không thấy ai. Chỉ thấy vũng mực trong nghiên sẫm dần lên dưới ánh trăng từ cửa sổ, rồi cây bút cán trúc tự nhấc lên khỏi ống bút.

Hạnh ngồi im, tim đập thình thịch, nhưng lạ là cô không sợ. Mùi mực tàu thơm lên trong gian phòng nhỏ, đúng cái mùi ngày bé cô vẫn ngửi khi ngồi trong lòng ông xem ông viết. Cây bút hạ xuống, viết một chữ, rồi đặt nằm ngang trên nghiên như cách ông vẫn đặt.

Người em trai bên kia sông

Chữ thứ năm là chữ Đệ, nghĩa là em trai. Mình có lỗi với em trai. Hạnh mang câu ấy hỏi bố. Bố lặng đi, rồi kể một chuyện mà Hạnh chưa từng nghe.

Ông có một người em trai, ông chú của bố, sống ở làng bên kia sông. Hồi trẻ, hai anh em cãi nhau vì mảnh vườn hương hỏa. Ông là anh cả, giữ phần vườn tốt, người em nhận phần đất trũng bên sông. Một lời nặng, rồi mười lời nặng, rồi năm mươi năm hai nhà không qua lại, đám giỗ không mời, đám cưới không báo.

Ông chú ấy vẫn còn sống, đã chín mươi tuổi, nằm một chỗ. Đám tang ông nội, bên ấy không ai sang. Bên này cũng không ai báo.

Đêm thứ sáu, cây bút viết chữ cuối cùng. Một chữ Thứ, nghĩa là tha thứ, nhưng nét ngang cuối kéo dài hẳn ra mép giấy, như người viết không nỡ dừng tay.

Sáu tờ giấy dó qua sông

Sáng hôm sau, Hạnh cuộn sáu tờ giấy lại, buộc bằng sợi lạt, cùng bố đi đò sang làng bên kia sông. Nhà ông chú là ngôi nhà ba gian thấp, sân lát gạch đã rêu. Người con dâu ra mở cổng, nhìn hai bố con như nhìn người lạ, mà đúng là người lạ thật.

Ông chú nằm trên giường cạnh cửa sổ, mắt mờ, tai nghe không rõ. Bố cúi xuống nói vào tai ông. Hạnh trải từng tờ giấy lên chăn. Ông chú đưa tay lần trên những nét chữ, rồi bảo con dâu đỡ ông ngồi dậy, lấy kính.

Ông đọc chậm từng chữ, giọng khàn: ngã hữu thác ư đệ, thứ. Rồi ông nói, nét này đúng là nét anh ấy, cái nét ngang cuối kéo dài, từ hồi đi học anh ấy đã viết như thế, thầy mắng mãi không sửa. Ông khóc, kiểu khóc của người già, không thành tiếng.

Giỗ đầu của ông nội năm sau, nhà bên kia sông sang đủ cả, con cháu chật sân. Ông chú được khiêng sang bằng cáng, ngồi trước bàn thờ anh trai rất lâu. Cây bút cán trúc từ đó nằm yên trong ống bút, không viết thêm chữ nào nữa. Hạnh thì bắt đầu học chữ Hán Nôm, mỗi tối một chữ, ở đúng chiếc án thư ấy.

Câu hỏi thường gặp

Ông đồ là ai trong làng quê xưa?

Ông đồ là người có học chữ Hán, thường dạy chữ cho trẻ trong làng và viết thuê câu đối, văn tế, thư từ. Hình ảnh ông đồ ngồi viết câu đối ngày Tết đã đi vào văn học, nổi tiếng nhất là bài thơ Ông đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.

Chữ Hán Nôm khác chữ quốc ngữ thế nào?

Chữ Hán là chữ của Trung Hoa được người Việt dùng lâu đời, chữ Nôm là chữ người Việt tự tạo dựa trên chữ Hán để ghi tiếng Việt. Chữ quốc ngữ dùng chữ cái La tinh, được dùng phổ biến từ đầu thế kỷ hai mươi.

Vì sao mực tàu thơm và lâu phai?

Mực tàu truyền thống thường làm từ muội than trộn với keo động vật, có khi thêm hương liệu. Muội than rất bền với ánh sáng, nên chữ viết bằng mực tàu trên giấy tốt có thể giữ được rất lâu.

Giấy dó được làm từ gì?

Giấy dó làm từ vỏ cây dó, qua các bước ngâm, nấu, giã, xeo thành tờ rồi phơi. Giấy dó dai, xốp, thấm mực đẹp, nên được dùng cho thư pháp, tranh dân gian và sách cổ.

Vì sao người ta hay nhận ra nét chữ của người thân?

Mỗi người có thói quen cầm bút, lực tay, độ nghiêng và cách kết thúc nét riêng, hình thành qua nhiều năm. Người sống gần lâu ngày nhìn quen nên nhận ra ngay, cũng như nhận ra giọng nói hay dáng đi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.