Long hát một câu qua thung lũng chỉ cho vui, và từ vách núi bên kia, một giọng hát già nua cất lên đáp lại, đúng câu đáp mà bà nội đã dạy cậu, câu mà cả bản chỉ còn mỗi bà thuộc.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, thung lũng, ngôi bản và các câu hát trong truyện đều do mình đặt ra. Đây là một truyện ma có tiếng hát và nước mắt, nhưng nước mắt ấm.
Câu hát của bà
Hồi Long còn bé, bà nội hay bế cậu ra mỏm đá đầu bản, nơi nhìn ra một thung lũng sâu ngập mây. Bà hát cho cậu nghe những điệu hát đối mà ngày xưa trai gái trong bản hát qua lại với nhau, bên này núi hát sang, bên kia núi đáp về.
Trong những điệu ấy, có một cặp câu bà dặn cậu phải thuộc. Câu hỏi là: mây ơi mây đi đâu, mây có thấy người thương ngồi đâu không. Câu đáp là: mây đi ba núi bảy khe, người thương vẫn đứng chỗ hẹn, chưa về.
Bà bảo, đó là câu ông nội hát hỏi bà, và bà hát đáp lại, ngày hai người mới quen nhau. Ông nội mất sớm, cả bản giờ chẳng ai còn nhớ câu ấy, chỉ còn bà. Bà dạy cho Long, vì sợ mai này không ai nhớ nữa.
Long thuộc, nhưng rồi cậu lớn, xuống thành phố học, đi làm, câu hát ngủ quên ở đâu đó trong trí nhớ. Bà mất khi cậu đang đi làm xa, cậu về không kịp.
Ba năm sau
Ba năm sau ngày bà mất, Long về bản ăn Tết. Bản đã khác nhiều. Có đường bê tông, có điện thoại, thanh niên đi làm xa gần hết. Chẳng còn ai hát đối nữa.
Chiều mùng hai, cậu một mình ra mỏm đá đầu bản. Thung lũng vẫn thế, vẫn ngập mây, vẫn những dãy núi xanh xếp lớp phía xa. Cậu đứng đó một lúc lâu, nhớ bà. Rồi chẳng hiểu sao, cậu khum tay quanh miệng, hát to câu hỏi bà đã dạy: mây ơi mây đi đâu, mây có thấy người thương ngồi đâu không.
Tiếng hát của cậu bay qua thung lũng, va vào vách núi bên kia, vọng lại vài tiếng. Cậu cười, thấy mình ngớ ngẩn.
Rồi, khi tiếng vọng đã tắt hẳn, từ vách núi bên kia, một giọng hát khác cất lên. Giọng một người phụ nữ già, run run nhưng trong vắt: mây đi ba núi bảy khe, người thương vẫn đứng chỗ hẹn, chưa về.
Không phải tiếng vọng
Long đứng chết lặng. Đó không phải tiếng vọng. Tiếng vọng chỉ lặp lại lời cậu, đằng này là câu khác hẳn. Và giọng ấy, cái cách luyến láy ở chữ khe, cái hơi ngân dài ở chữ về, cậu chưa từng nghe ai hát như thế ngoài bà.
Cậu hát lại câu hỏi lần nữa, run run. Bên kia thung lũng, giọng hát lại đáp, chậm rãi, kiên nhẫn, như người đang dạy một đứa trẻ. Lần này, ở cuối câu, giọng ấy hát thêm một câu nữa mà Long chưa từng được dạy: cháu ơi cháu về rồi à, sao không lên thăm bà.
Long ngồi sụp xuống mỏm đá. Cậu nhìn sang bên kia thung lũng. Ở đó chỉ có rừng và mây, không một mái nhà, không một bóng người. Bên kia thung lũng là núi Mẹ, nơi người bản chôn cất người đã khuất.
Cậu bỗng nhớ ra. Ba năm nay, cậu chưa một lần lên thăm mộ bà.
Lên núi Mẹ
Sáng mùng ba, Long dậy sớm, mang theo một ít bánh, một nắm hương, một chai rượu ngô, đi bộ qua thung lũng lên núi Mẹ. Đường khó đi, cỏ mọc um tùm, cậu phải hỏi một ông cụ trong bản mới tìm ra mộ bà.
Mộ bà nằm trên một sườn đồi nhỏ, nhìn thẳng sang mỏm đá đầu bản. Ngay bên cạnh là mộ ông nội. Cỏ đã mọc phủ kín, chẳng ai dọn. Long ngồi xuống, cắt cỏ, nhổ gai, lau tấm bia bằng tay áo, làm tới gần trưa.
Xong việc, cậu ngồi bên mộ, nhìn sang bên kia thung lũng, đúng chỗ mỏm đá cậu đứng hôm qua. Từ đây nhìn sang, mỏm đá nhỏ xíu. Cậu hiểu ra, ngày ông bà còn trẻ, ông đứng bên này núi, bà đứng bên kia, hai người hát đối qua chính thung lũng này.
Long hắng giọng. Cậu hát câu đáp, câu của bà, hướng về phía mỏm đá đầu bản: mây đi ba núi bảy khe, người thương vẫn đứng chỗ hẹn, chưa về.
Ai hát câu hỏi
Từ phía mỏm đá đầu bản, bên kia thung lũng, có một giọng hát vọng sang. Lần này là giọng đàn ông, trẻ, khỏe, hơi vụng ở chỗ luyến: mây ơi mây đi đâu, mây có thấy người thương ngồi đâu không.
Long ngoảnh lại nhìn hai ngôi mộ cạnh nhau. Một cơn gió nhẹ từ dưới thung lũng thổi lên, làm mấy cây hương trên mộ cháy bùng lên một lúc rồi lặng lẽ tỏa khói thẳng lên trời. Cậu không thấy sợ chút nào. Cậu chỉ thấy cổ họng nghẹn lại.
Từ đó, Tết nào Long cũng về. Chiều mùng hai, cậu đứng trên mỏm đá đầu bản hát câu hỏi. Sáng mùng ba, cậu lên núi Mẹ hát câu đáp. Năm thứ hai, có thêm mấy đứa trẻ trong bản đi theo cậu, tò mò. Cậu dạy chúng hai câu hát.
Bây giờ trong bản đã có hơn chục đứa trẻ thuộc câu hát của ông bà Long. Chiều Tết, chúng đứng thành hàng trên mỏm đá, hát vang qua thung lũng. Và các cụ già trong bản kể, có những chiều mây xuống thấp, sau khi bọn trẻ hát xong, từ núi Mẹ bên kia vọng lại hai giọng hát, một già một trẻ, hòa vào nhau, hát chung một câu đáp.
Câu hỏi thường gặp
Hát đối đáp là gì?
Hát đối đáp là lối hát mà hai bên, thường là nam và nữ, hát qua lại với nhau, bên này đưa ra câu hỏi hay lời ướm, bên kia phải đáp lại cho khéo. Nhiều vùng miền và nhiều dân tộc ở Việt Nam có những lối hát đối riêng, gắn với lễ hội và chuyện tìm hiểu nhau.
Vì sao ở thung lũng lại có tiếng vọng?
Khi âm thanh gặp vách núi rộng và cứng, nó bị phản xạ trở lại. Nếu vách núi đủ xa, tai người phân biệt được tiếng gốc và tiếng dội lại, nghe thành tiếng vọng. Tiếng vọng chỉ lặp lại đúng âm thanh ban đầu, không thể đổi lời.
Làm sao để giữ gìn những câu hát cổ của gia đình?
Có thể ghi âm ông bà hát, chép lại lời và hỏi ông bà về câu chuyện đằng sau mỗi câu hát. Dạy lại cho trẻ nhỏ và cùng hát trong dịp lễ Tết là cách giữ hiệu quả nhất, vì bài hát sống được khi còn người hát.
Thăm mộ người thân dịp Tết có ý nghĩa gì?
Với nhiều gia đình Việt, thăm và dọn dẹp mộ người thân dịp Tết hay dịp Thanh minh là cách tưởng nhớ, tri ân người đã khuất, đồng thời giúp con cháu gắn bó hơn với nguồn cội.
Câu hát trong truyện có phải dân ca thật không?
Không, hai câu hát trong truyện là do mình đặt ra, không phải trích từ một làn điệu dân ca có thật nào. Ngôi bản và núi Mẹ cũng là chi tiết hư cấu.