Rạp hát ấy đã tắt đèn từ đêm bão năm nào, giữa chừng màn bốn, và suốt bao năm qua, màn năm của vở tuồng vẫn chưa ai được nghe.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu mình viết, thị xã, rạp hát, gánh hát và vở tuồng trong truyện đều là đặt ra. Nếu bạn thương tiếng đàn kìm, chắc truyện này sẽ làm bạn buồn một chút.
Rạp hát giữa thị xã
Đức hai mươi tám tuổi, làm thợ âm thanh cho các đám cưới, sự kiện ở miền Tây. Một người quen giới thiệu anh một việc lạ: tháo toàn bộ hệ thống loa, dây, bàn trộn trong một rạp cải lương bỏ hoang ở thị xã, để chủ mới phá rạp xây siêu thị. Đồ cũ ai tháo thì được giữ.
Rạp nằm ngay giữa thị xã, mặt tiền vôi vàng có cửa vòm, bên trong khán phòng chừng năm trăm ghế gỗ, sân khấu sâu hun hút, màn nhung đỏ đã bạc màu như vỏ trái măng cụt phơi lâu. Bụi phủ một lớp dày, dơi treo trên xà nhà, mùi ẩm mốc quyện với mùi phấn son còn sót lại đâu đó sau cánh gà.
Ông bảo vệ già kể cho Đức nghe: rạp đóng cửa sau một đêm bão. Hôm ấy gánh hát đang diễn một vở tuồng ăn khách, khán phòng chật kín. Tới giữa màn bốn thì cúp điện, gió giật tốc cả mấy tấm tôn. Khán giả về hết. Sau đêm ấy gánh hát gặp nhiều chuyện, rồi tan. Rạp không mở lại nữa.
Ông bảo, màn năm của vở ấy, người thị xã chưa ai được xem. Câu vọng cổ cuối cùng, nghe nói là câu hay nhất, cũng chưa ai được nghe.
Tiếng đàn sau cánh gà
Đức làm việc ba ngày. Đêm thứ ba, anh ở lại muộn để tháo nốt dây loa sân khấu. Khoảng mười một giờ, anh đang cuộn dây ở hàng ghế đầu thì nghe một tiếng đàn.
Tiếng đàn kìm dạo một câu rất chậm, rồi tiếng đàn ghi ta phím lõm luyến theo, réo rắt. Âm thanh vọng ra từ sau cánh gà, nơi trước đây là chỗ ngồi của dàn nhạc. Đức đứng im, tay vẫn cầm cuộn dây. Rồi tiếng song lang gõ cạch một tiếng khô khốc.
Đèn sân khấu bật sáng. Những ngọn đèn mà chính tay Đức đã tháo bóng chiều nay giờ sáng rực, vàng ấm. Màn nhung đỏ từ từ kéo sang hai bên. Trên sân khấu là một cảnh trí bằng giấy bồi: một bến sông, một cây bần, một mái lá. Khói mờ bay là là.
Đức ngồi xuống chiếc ghế hàng đầu. Anh không biết vì sao mình ngồi xuống thay vì bỏ chạy. Có lẽ vì quanh anh, năm trăm chiếc ghế trống im lặng như đang chờ, và anh là người duy nhất ở đó.
Màn năm
Một người đàn ông bước ra, áo bà ba đen, khăn rằn vắt vai, gương mặt trang điểm đậm kiểu sân khấu. Rồi một người phụ nữ, áo dài trắng, tóc búi. Họ diễn cảnh người vợ chờ chồng đi biển trở về sau nhiều năm biền biệt. Lời thoại, điệu bộ, ánh mắt, tất cả như đang diễn trước một khán phòng đông nghẹt.
Rồi tới đoạn người vợ ca vọng cổ. Giọng chị vút lên, trong và buồn, như nước chảy qua kẽ đá. Đức nghe mà nổi da gà. Câu thứ nhất, câu thứ hai, câu thứ ba. Tới câu thứ năm, đúng lúc giọng chị lên cao nhất, loa sân khấu rè lên một tiếng rồi tắt ngấm. Tiếng hát chỉ còn vang yếu ớt, chìm trong khán phòng rộng.
Người phụ nữ khựng lại, nhìn xuống phía Đức. Anh hiểu ngay. Hai cuộn dây loa sân khấu anh đã tháo chiều nay, giờ nằm dưới chân anh.
Đức chạy lên cạnh sân khấu, tay run run nối lại dây vào cọc loa, siết chặt từng con vít như mọi lần làm đám cưới. Loa kêu tách một tiếng, rồi giọng hát lại vang lên trọn vẹn, lấp đầy cả khán phòng. Người phụ nữ khẽ gật đầu với anh, và hát tiếp câu thứ sáu.
Một người vỗ tay
Câu vọng cổ cuối cùng, Đức nhớ suốt đời. Người vợ trên sân khấu không khóc mà cười, một nụ cười hiền như người đã chờ được điều mình chờ. Người chồng đứng sau lưng chị, đặt tay lên vai. Đàn kìm dạo một câu dài, rồi tiếng song lang gõ ba tiếng kết.
Cả gánh hát bước ra, đứng thành một hàng trên sân khấu: đào kép, các vai phụ, mấy ông nhạc công tay ôm đàn, cả ông bầu gánh mặc áo sơ mi trắng. Họ cùng cúi chào. Rồi họ ngẩng lên, nhìn xuống khán phòng, nhìn thẳng vào Đức.
Đức đứng dậy và vỗ tay. Một mình anh giữa năm trăm chiếc ghế trống. Tiếng vỗ tay của anh vang dội khắp mái rạp, lạ lùng như có cả ngàn người vỗ cùng.
Màn nhung khép lại. Đèn tắt. Khán phòng tối om và lặng như tờ. Đức đứng đó rất lâu, hai bàn tay vẫn còn rát.
Bản ghi âm
Sáng hôm sau, đèn sân khấu vẫn không có bóng, dây loa vẫn nằm cuộn dưới chân ghế, chỗ anh để từ chiều hôm trước. Cảnh trí giấy bồi không có, chỉ có sàn gỗ mục và tấm màn nhung bạc phếch.
Đức nhớ ra một điều. Đêm qua, theo thói quen khi làm việc, anh vẫn để chiếc máy ghi âm cầm tay trong túi áo, bật sẵn để thử tiếng vọng của khán phòng. Anh lấy ra, mở nghe.
Trong máy có trọn vẹn màn năm. Tiếng đàn kìm, tiếng ghi ta phím lõm, tiếng song lang, giọng hát của người vợ trong và buồn, có cả đoạn loa rè rồi tắt rồi vang lên trở lại. Ở cuối bản ghi là tiếng vỗ tay. Chỉ có một tràng vỗ tay, của một người duy nhất.
Đức mang bản ghi âm tới cho ông bảo vệ già. Ông nghe xong, ngồi im rất lâu, rồi bảo đó là giọng của cô đào chính năm ấy. Rạp bị phá vào tháng sau. Đức giữ lại một chiếc loa sân khấu, đặt trong tiệm âm thanh nhỏ của mình. Những đêm mưa, anh bật bản ghi ấy lên, vặn nhỏ, và mỗi lần tới đoạn cuối, anh vẫn vỗ tay.
Câu hỏi thường gặp
Cải lương ra đời từ đâu?
Cải lương là loại hình sân khấu hình thành ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ hai mươi, phát triển từ đờn ca tài tử. Bài vọng cổ là linh hồn của nhiều vở cải lương, thường được ca ở những đoạn xúc động nhất.
Đàn ghi ta phím lõm khác ghi ta thường thế nào?
Đây là cây đàn ghi ta được khoét lõm phần phím đàn để người chơi nhấn nhá, luyến láy được những nốt đặc trưng của nhạc tài tử cải lương. Nó là một sáng tạo của nghệ nhân Nam Bộ.
Vì sao rạp hát bỏ hoang hay xuất hiện trong truyện ma?
Rạp hát từng là nơi tập trung cảm xúc mạnh của rất nhiều người, khi trống vắng nó tạo cảm giác như còn vang vọng những gì đã diễn ra. Sân khấu, màn nhung, cánh gà tối cũng là bối cảnh rất giàu không khí cho truyện kể.
Song lang dùng để làm gì trong dàn nhạc cải lương?
Song lang là nhạc cụ gõ nhỏ bằng gỗ, người đàn dùng chân gõ để giữ nhịp. Tiếng song lang đánh dấu những chỗ quan trọng trong câu vọng cổ, là nhịp chuẩn cho cả người ca lẫn người đàn.
Vì sao những việc dang dở hay trở thành đề tài truyện ma?
Vì con người khó chịu với sự dở dang, luôn muốn mọi chuyện có một kết thúc. Truyện ma để những điều dang dở được hoàn tất, dù bằng cách kỳ lạ, nên người nghe vừa rợn vừa thấy nhẹ lòng.