Bíp bíp, bíp bíp, đúng mười giờ đêm, màn hình xanh nhỏ xíu của chiếc máy nhắn tin hiện một dòng chữ: em chờ anh ở bến xe, chỗ cũ, Thuỷ.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu, mình kể lại theo lời một ông chú tưởng tượng, về cái thời mà muốn hẹn ai phải gọi tổng đài nhờ nhắn hộ. Bạn nào sinh sau năm hai nghìn thì cứ hình dung một chiếc hộp nhỏ bằng bao diêm, chỉ hiện được vài dòng chữ thôi nhé.
Chiếc máy mua lại ở tiệm sửa đồng hồ
Chú Hải năm ấy hai mươi ba tuổi, chạy xe ôm ở một thị xã miền Trung, kiếm được đồng nào để dành đồng nấy. Hồi đó ai có máy nhắn tin đeo bên hông là oai lắm, khách gọi là có việc ngay. Chú để dành mấy tháng, mua lại một chiếc cũ ở tiệm sửa đồng hồ đầu chợ.
Ông chủ tiệm bảo máy còn tốt, chủ cũ là một anh lơ xe khách, gửi bán rồi không quay lại lấy tiền. Chú Hải đi đăng ký lại số thuê bao, gắn máy bên thắt lưng, sướng như được của.
Mấy tuần đầu, máy chỉ kêu khi khách gọi. Tổng đài nhắn kiểu: khách ở chợ cá cần xe, gọi lại số này. Chú Hải chạy ra bốt điện thoại công cộng gọi lại, nhận cuốc, đời cứ thế mà trôi.
Cho tới một đêm mưa phùn tháng Chạp. Đúng mười giờ, máy kêu bíp bíp. Màn hình hiện: em chờ anh ở bến xe, chỗ cũ, Thuỷ.
Người nhắn tên Thuỷ
Chú Hải không quen ai tên Thuỷ. Chú nghĩ tổng đài nhắn nhầm, sáng ra ghé bưu điện hỏi. Cô nhân viên tổng đài tra sổ, lắc đầu bảo đêm qua không có ai gọi nhắn vào số của chú cả. Sổ ghi rõ ràng, từ tám giờ tối tới sáng không có dòng nào.
Đêm sau, mười giờ, máy lại kêu. Vẫn dòng chữ ấy. Đêm sau nữa cũng vậy. Có hôm thêm một chữ: em chờ anh ở bến xe, chỗ cũ, em mang áo len cho anh, Thuỷ.
Chú Hải bắt đầu để ý những dòng tin. Chữ nào cũng không dấu, như cách nhắn hồi đó, nhưng câu cú mềm mại, có chút giận dỗi, có chút nhớ nhung, như một cô gái nói với người yêu đi xa lâu ngày chưa về.
Tới đêm thứ bảy, tò mò thắng nỗi sợ. Mười giờ kém mười lăm, chú Hải nổ máy xe, chạy ra bến xe thị xã. Bến xe đã đóng cửa, chỉ còn một chiếc xe khách đậu chờ chuyến sáng, bóng đèn vàng treo dưới mái tôn đung đưa trong gió.
Cô gái dưới mái tôn
Chú Hải thấy cô từ xa. Một cô gái mặc áo bà ba màu trắng, tóc dài cột thấp, ôm trong lòng một chiếc áo len màu nâu. Cô đứng ngay dưới bóng đèn vàng, mắt nhìn về phía cổng bến, nơi xe khách đường dài vẫn hay rẽ vào.
Chú dừng xe cách đó một quãng. Mưa phùn bay lất phất, mà tóc cô khô ráo. Gió thổi, chiếc bóng đèn đung đưa, bóng của mọi thứ dưới mái tôn đều lắc lư theo, chiếc xe khách, cột sắt, cái ghế đá. Chỉ có chỗ cô đứng là không có bóng nào.
Chú Hải không dám lại gần. Chú đứng ở đó, nhìn cô nhìn ra cổng. Mười giờ, mười giờ mười lăm, mười giờ rưỡi. Cô không ngồi xuống, không đổi chân, chỉ thỉnh thoảng cúi xuống vuốt lại nếp chiếc áo len.
Mười một giờ, máy nhắn tin bên hông chú kêu bíp. Chú cúi xuống đọc: anh lại không về. Khi ngẩng lên, dưới mái tôn chỉ còn chiếc ghế đá ướt mưa.
Chuyện của anh lơ xe
Sáng hôm sau, chú Hải quay lại tiệm sửa đồng hồ, hỏi về anh lơ xe chủ cũ của chiếc máy. Ông chủ tiệm ngập ngừng một hồi mới kể. Anh lơ xe ấy theo xe khách tuyến Bắc Nam, quê ở thị xã này, có một người yêu tên Thuỷ ở xóm chợ.
Mấy năm trước, vào một mùa mưa lũ, Thuỷ đạp xe ra bến chờ anh về ăn Tết, giữa đường gặp nước lũ chảy xiết qua cầu tràn. Người ta tìm được chiếc xe đạp mắc ở bụi tre, với chiếc áo len cô đan cho anh buộc ở yên sau.
Anh lơ xe đi biệt mấy năm không về quê. Đầu năm ấy anh quay lại một lần, đem chiếc máy nhắn tin gửi tiệm bán, dặn ông chủ đừng bán cho ai trong thị xã. Rồi anh đi, không ai biết đi đâu. Ông chủ tiệm quên lời dặn, bán cho chú Hải.
Chú Hải hỏi ông có số liên lạc của anh không. Ông chủ tiệm lục trong ngăn kéo, đưa cho chú một mẩu giấy ghi số máy nhắn tin mới của anh, số mà anh để lại phòng khi có người hỏi tiền.
Lời nhắn cuối cùng
Chú Hải ra bốt điện thoại, gọi tổng đài, đọc số của anh lơ xe, nhờ nhắn một dòng. Cô nhân viên hỏi nội dung là gì. Chú nghĩ rất lâu, rồi đọc: Thuỷ vẫn chờ anh ở bến xe, chỗ cũ, mười giờ.
Chú không biết anh lơ xe có nhận được hay không. Chú chỉ biết từ đêm ấy, máy nhắn tin của chú không kêu lúc mười giờ nữa. Chú đem nó cất vào ngăn tủ, ít lâu sau thì tổng đài máy nhắn tin cũng đóng cửa, cả thị xã chuyển sang điện thoại di động.
Nhiều năm sau, chú Hải đã là ông Hải, có lần chở cháu ra bến xe mới của thị xã đón người nhà. Bến cũ đã thành chợ đêm. Đi ngang qua chỗ ngày xưa có mái tôn, chú thấy một người đàn ông tóc muối tiêu đứng một mình, tay ôm chiếc áo len màu nâu đã bạc.
Chú không dừng lại. Nhưng trong túi áo chú, chiếc máy nhắn tin cũ mà chú vẫn mang theo như một vật kỷ niệm, đã tắt pin từ cả chục năm, bỗng kêu bíp một tiếng rất khẽ. Chú không cần lấy ra xem cũng biết nó viết gì: anh về rồi.
Câu hỏi thường gặp
Máy nhắn tin ngày xưa hoạt động thế nào?
Người muốn nhắn sẽ gọi tới tổng đài, đọc số máy của người nhận và nội dung, nhân viên tổng đài gõ lại rồi phát qua sóng vô tuyến. Máy nhắn tin chỉ nhận chứ không gửi được, nên người nhận phải tìm điện thoại để gọi lại.
Vì sao những đồ vật cũ hay xuất hiện trong truyện ma?
Đồ vật cũ từng thuộc về ai đó, mang dấu vết của một đời sống mà người sau không biết. Khoảng trống về lai lịch ấy là chỗ trí tưởng tượng lấp vào, và truyện ma là cách kể về những đời người còn dang dở.
Vì sao hình ảnh người chờ đợi lại ám ảnh trong truyện ma?
Sự chờ đợi gắn với lời hứa chưa được giữ. Trong nhiều truyện dân gian châu Á, hồn người chết vì chờ đợi thường không hại ai, chỉ ở lại nơi hẹn, và nỗi buồn ấy khiến người nghe ám ảnh lâu hơn cả những truyện hù doạ.
Vì sao trong truyện ma, hồn ma thường không có bóng?
Đây là một mô típ quen thuộc trong truyện kể nhiều nơi. Bóng là bằng chứng của một thân thể thật chắn ánh sáng, nên một hình người không có bóng là cách người kể chuyện cho thấy nhân vật thuộc về thế giới khác mà không cần nói thẳng.
Vì sao ta thấy thời của máy nhắn tin lãng mạn hơn bây giờ?
Một phần vì liên lạc khó hơn nên mỗi lời nhắn được cân nhắc và chờ đợi lâu hơn. Một phần vì ký ức có xu hướng giữ lại những điều đẹp và làm mờ những phiền toái, khiến quá khứ trông dịu dàng hơn thực tế.