Phong cúi xuống miệng chiếc chum sành cũ ngoài sân, gọi thử một tiếng cho vui, và từ đáy chum vọng lên không phải tiếng vọng của anh, mà là một giọng đàn ông già, khàn khàn, hỏi lại anh là con cháu nhà ai.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu, ngôi làng, ngôi nhà tổ và những con người trong đó đều do mình đặt ra. Truyện có một cái chum biết nói và một món nợ cũ, rợn vừa phải thôi. Mình kể nhé.
Ngôi nhà tổ xuống cấp
Phong là kỹ sư xây dựng, làm cho một công ty ở thành phố. Ông nội anh dựng ngôi nhà tổ ở một làng đồng bằng từ hơn sáu mươi năm trước, nhà năm gian, sân gạch, cổng xây. Ông nội mất lâu rồi, bố anh cũng đã già, cả họ giao cho Phong về lo sửa lại nhà trước ngày giỗ tổ.
Phong xin nghỉ phép dài, về ở luôn trong nhà, thuê đội thợ địa phương. Ngôi nhà xuống cấp nhiều: mái dột, tường nứt, sân lún một góc. Ở góc sân có một chiếc chum sành to, men nâu, miệng rộng ngang vòng tay ôm, ngày xưa dùng để hứng nước mưa. Giờ chum khô, đáy có một lớp lá mục.
Thợ cả định bỏ chum đi cho rộng sân. Phong ngăn lại, bảo để đó, đồ của ông nội.
Chiều hôm ấy, thợ về hết, Phong đứng một mình giữa sân, cúi xuống miệng chum gọi một tiếng cho vui, như hồi bé hay làm.
Giọng nói dưới đáy chum
Tiếng vọng từ trong chum bao giờ cũng ồm ồm, kéo dài. Nhưng lần này không phải tiếng của Phong. Một giọng đàn ông già, khàn, chậm, hỏi lên từ đáy chum: cháu là con cháu nhà ai.
Phong lùi lại một bước, tim đập thình thịch. Anh nhìn quanh. Sân vắng, cổng khép, chỉ có tiếng gió lùa qua giàn mướp. Anh tự trấn an mình là kỹ sư, mình hiểu về âm thanh, chắc có ai đó đứng ngoài tường trêu.
Anh cúi xuống lần nữa, trả lời theo đúng kiểu người làng: cháu là cháu nội ông Toàn. Giọng dưới đáy chum im lặng rất lâu. Rồi nó nói: ông Toàn còn nợ nhà này một mảnh vườn, nhà họ Lê.
Câu ấy rơi vào tai Phong lạnh như nước giếng mùa đông. Anh chưa từng nghe ai trong nhà nhắc tới một người họ Lê nào. Anh không dám cúi xuống chum nữa trong đêm đó.
Mảnh vườn sau nhà
Phong gọi về hỏi bố. Bố anh lúc đầu ậm ừ, sau mới kể. Hồi ông nội dựng nhà, ông mua lại mảnh vườn liền kề phía sau của một ông cụ hàng xóm họ Lê, người làm nghề nặn chum vại. Ông cụ Lê nghèo, cần tiền chữa bệnh cho vợ, bán gấp.
Nhưng trong làng còn một chuyện mà bố anh chỉ nghe lỏm từ người lớn hồi bé: ông nội trả chưa đủ tiền. Ông hẹn trả nốt sau mùa gặt. Mùa gặt năm ấy mất mùa, rồi năm sau, năm sau nữa. Ông cụ Lê mất, con cháu chuyển đi làm ăn xa. Mảnh vườn thành của nhà Phong, không ai nhắc nữa.
Chiếc chum ở góc sân, theo lời bố, chính là chum do ông cụ Lê nặn, ông nội mua cùng lúc với mảnh vườn.
Phong lặng người. Anh nhìn ra mảnh vườn phía sau nhà, nơi giờ đã trồng bưởi, chuối, và một góc xây bể nước. Mảnh vườn ấy là chỗ đẹp nhất của ngôi nhà tổ.
Đi tìm con cháu họ Lê
Phong không kể chuyện chiếc chum với ai trong họ. Anh chỉ kể chuyện món nợ, với bằng chứng duy nhất là trí nhớ của bố và mấy cụ già trong làng. Họ hàng bàn tán, có người bảo chuyện cũ rích, có người bảo ông nội mất rồi, ai biết thật giả.
Phong vẫn đi tìm. Anh hỏi khắp làng, hỏi ở trụ sở xã, dò theo mấy người họ Lê còn lại. Gần một tháng sau, anh tìm được cháu nội ông cụ Lê, một người phụ nữ ngoài bốn mươi làm nghề gốm ở một làng nghề cách đó mấy chục cây số. Chị vẫn giữ nghề của ông.
Chị nghe Phong kể, ngạc nhiên lắm. Bố chị có từng nhắc ông nội bán mảnh vườn quê cũ, nhưng không ai trong nhà nói chuyện nợ nần. Chị bảo chuyện đã lâu, không cần đâu anh.
Phong kể với chị về chiếc chum. Chị im lặng một lúc, rồi xin về làng xem chiếc chum của ông mình.
Chiếc chum được trả về
Người phụ nữ làng gốm đứng trước chiếc chum rất lâu. Chị lấy tay sờ lên lớp men nâu, lần theo một vết lõm nhỏ gần miệng chum, bảo đây là dấu ngón tay cái của ông, ông chum nào cũng ấn một dấu như thế, nhà chị vẫn còn mấy chiếc có y hệt dấu ấy.
Rồi chị cúi xuống miệng chum. Phong đứng phía sau, nín thở. Chị nói nhỏ vào chum một câu, Phong không nghe rõ. Từ đáy chum vọng lên một tiếng ồm ồm, dài, ấm, đúng là tiếng vọng bình thường của một chiếc chum rỗng, nhưng nghe như có ai thở ra.
Phong thuyết phục được họ hàng góp một khoản tiền, tính theo giá đất bây giờ cho phần chưa trả năm xưa. Chị không nhận hết, chỉ nhận một phần để sửa lại lò gốm của ông, phần còn lại bảo anh làm cái gì đó cho làng. Chị chỉ xin một thứ: mang chiếc chum về lò gốm, đặt cạnh những chiếc chum khác của ông.
Ngày giỗ tổ năm ấy, ngôi nhà đã sửa xong, góc sân trống chỗ chiếc chum. Phong cho xây ở đó một bể nước nhỏ hứng nước mưa, xung quanh trồng mấy khóm hoa. Thỉnh thoảng anh cúi xuống mặt bể gọi thử. Nước chỉ trả lại đúng tiếng của anh, gọn gàng, không ai hỏi han gì nữa.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao nói vào chum lại có tiếng vọng ồm ồm?
Chum là một khoang rỗng có miệng hẹp hơn thân, âm thanh vào trong bị phản xạ nhiều lần và cộng hưởng ở những tần số trầm. Vì vậy tiếng nói vào chum nghe trầm, vang và kéo dài hơn bình thường.
Chum sành dùng để làm gì trong nhà quê xưa?
Chum sành được dùng chứa nước mưa, đựng gạo, muối dưa cà, ủ tương, đựng mắm. Đồ sành nung ở nhiệt độ cao, ít thấm nước, bền, nên là vật dụng quen thuộc của nhiều gia đình nông thôn.
Vì sao thợ gốm hay để lại dấu riêng trên sản phẩm?
Dấu tay, dấu ấn hay ký hiệu giúp nhận ra người làm hoặc lò sản xuất, giống chữ ký. Nhiều nhà nghiên cứu gốm cổ dựa vào những dấu như vậy để tìm hiểu nguồn gốc hiện vật.
Mua bán đất đai cần chú ý gì để tránh tranh chấp về sau?
Việc mua bán đất cần làm đúng thủ tục pháp lý, có hợp đồng công chứng và đăng ký sang tên tại cơ quan có thẩm quyền. Khi có vướng mắc, nên hỏi luật sư hoặc cơ quan quản lý đất đai địa phương.
Vì sao chuyện ma hay gắn với nợ nần của người đã khuất?
Trong quan niệm dân gian của nhiều nơi, món nợ chưa trả hay lời hứa chưa giữ là điều làm người đã khuất chưa yên lòng. Truyện kể kiểu này nhắc người sống giữ chữ tín và sửa sai khi còn có thể.