Ở đầu con hẻm cụt ấy, sáng nào cũng có một gói xôi được gói sẵn, để riêng ra một góc thúng, dành cho một người duy nhất.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, con hẻm, bà cụ và anh công nhân đều do mình đặt ra. Đây là một truyện rất nhẹ, hợp nghe lúc trời sắp sáng, khi bạn đang đói và nhớ một món ăn ở quê.
Tan ca lúc năm giờ sáng
Anh Sơn làm công nhân ca đêm ở một xưởng may ven thành phố. Ca của anh kết thúc lúc năm giờ sáng. Mỗi sáng tan ca, anh chạy xe qua mấy con phố còn ngái ngủ về phòng trọ, người mỏi rã, bụng đói meo.
Trên đường về có một con hẻm cụt nhỏ, đầu hẻm có một bà cụ bán xôi. Bà ngồi trên chiếc ghế nhựa thấp, trước mặt là cái thúng tre phủ lá chuối, cạnh đó là cái làn đựng muối vừng, ruốc, hành phi. Bà ra hàng từ bốn giờ rưỡi, bán tới khi hết thì về, thường chưa tới bảy giờ.
Lần đầu anh Sơn dừng lại mua chỉ vì đói quá. Xôi đậu xanh, dẻo, thơm mùi nếp mới, bà gói trong lá chuối, buộc lạt, rắc thêm nhúm hành phi. Anh ăn ngay trên xe, ngon tới mức muốn khóc.
Từ đó, sáng nào anh cũng ghé. Bà nhận ra anh từ lần thứ ba. Bà hỏi anh làm ở đâu, quê ở đâu, ăn có đủ không. Anh nói quê ở miền Trung. Bà gật gù, bảo con trai bà ngày xưa cũng làm ca đêm, cũng gầy như anh.
Gói xôi để riêng
Dần dần, sáng nào anh tới, bà cũng đã gói sẵn một gói xôi để riêng ở góc thúng. Gói của anh bao giờ cũng to hơn, nhiều đậu hơn, thêm ít ruốc. Anh trả tiền như mọi người, bà không lấy thêm. Anh bảo bà cho nhiều thế bà lỗ. Bà cười, bảo công nhân ăn ít thì làm sao mà khỏe.
Những sáng mưa, bà ngồi dưới một cái ô to, gói xôi cho anh vào thêm một lớp túi ni lông để khỏi ướt. Những sáng lạnh, bà dúi vào tay anh một gói xôi nóng hổi, bảo cầm cho ấm tay rồi hãy ăn.
Anh Sơn không biết tên bà. Cả xóm gọi bà là bà Xôi. Anh cũng gọi thế. Có lần anh hỏi con trai bà giờ làm ở đâu. Bà im một lúc, nhìn vào sâu trong hẻm, rồi bảo nó đi làm xa lắm, lâu lắm không về.
Hai năm như thế. Anh đổi xưởng, đổi phòng trọ, nhưng vẫn chạy đường vòng để đi ngang hẻm cụt mỗi sáng.
Buổi sáng bà không ra
Một sáng cuối thu, anh Sơn tan ca, chạy tới đầu hẻm. Chỗ bà ngồi trống trơn. Không ghế nhựa, không thúng tre, không mùi xôi. Anh nghĩ chắc bà ốm, mai bà ra.
Sáng hôm sau, vẫn trống. Sáng hôm sau nữa cũng vậy. Anh Sơn thấy lòng bồn chồn. Anh dựng xe ở đầu hẻm, đi bộ vào trong. Con hẻm cụt sâu, nhà san sát, cuối hẻm là một bức tường cao phủ dây hoa giấy.
Anh hỏi một chị đang quét sân nhà bà Xôi ở đâu. Chị chỉ vào một căn nhà nhỏ gần cuối hẻm, cửa đóng, trước cửa có một bàn thờ nhỏ đặt tạm, khói hương nghi ngút.
Chị kể bà cụ mất hôm thứ hai, nhẹ nhàng trong giấc ngủ, đã ngoài chín mươi tuổi. Bà sống một mình đã lâu. Người con trai duy nhất của bà ngày trước làm ca đêm ở một nhà máy, rồi đi làm ăn xa, mất liên lạc từ hơn hai chục năm, bà vẫn chờ.
Điều hàng xóm kể
Anh Sơn đứng trước bàn thờ, thắp một nén hương. Mấy người hàng xóm ra hỏi anh là ai. Anh bảo anh là khách mua xôi của bà. Một bà cụ khác trong xóm nhìn anh, rồi hỏi có phải cậu công nhân sáng nào cũng ghé không.
Bà kể, bà Xôi nhắc tới anh suốt. Rằng có thằng bé công nhân làm ca đêm, gầy lắm, sáng nào cũng ăn xôi của bà, nhìn nó ăn mà nhớ thằng con mình. Bà Xôi bảo, bao giờ bà còn ngồi được, bà còn gói xôi cho nó.
Người hàng xóm còn kể, hôm chủ nhật, ngày trước khi mất, bà Xôi ngâm gạo, đãi đậu như mọi khi, mà làm nhiều hơn hẳn. Hỏi sao làm nhiều, bà bảo trời sắp lạnh, thằng bé công nhân ăn thêm cho ấm. Sáng thứ hai, bà không dậy nữa. Nồi xôi vẫn còn nguyên trên bếp.
Anh Sơn đứng trong con hẻm cụt rất lâu. Anh chưa bao giờ biết tên bà. Anh hỏi, người ta bảo tên bà là Thắm. Anh lẩm nhẩm cái tên ấy mãi trên đường về.
Gói xôi trên yên xe
Sáng hôm sau, anh Sơn tan ca muộn hơn mọi ngày. Gần sáu giờ, anh ra bãi xe của xưởng. Trời lạnh, sương còn đọng trên yên những chiếc xe máy xếp hàng.
Trên yên xe của anh có một gói xôi. Gói bằng lá chuối, buộc lạt tre, đúng cái nút buộc mà anh đã thấy hàng trăm lần. Anh cầm lên. Gói xôi nóng hổi, như vừa xới khỏi chõ. Anh mở ra. Xôi đậu xanh, nhiều đậu, thêm ít ruốc, rắc một nhúm hành phi.
Anh hỏi bác bảo vệ bãi xe có thấy ai để không. Bác lắc đầu, bảo từ đêm tới giờ không ai vào bãi, chỉ thấy lúc gần sáng có một bà cụ nhỏ người đứng ở cổng, nhìn vào rất lâu, rồi đi. Bác tưởng mẹ của công nhân nào đó.
Anh Sơn ngồi xuống bậc thềm bãi xe, ăn hết gói xôi. Vẫn ngon như lần đầu. Từ đó, sáng nào tan ca anh cũng đi ngang con hẻm cụt, dừng xe một lúc ở chỗ đầu hẻm, chỗ ngày xưa có cái ghế nhựa thấp. Anh không còn mua được xôi ở đó nữa. Nhưng những sáng trời trở lạnh, có khi anh vẫn ngửi thấy thoang thoảng mùi nếp mới và hành phi, theo gió đi ra từ cuối con hẻm, ấm như một bàn tay dúi vào tay mình.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao mùi đồ ăn quen gợi ký ức mạnh hơn hình ảnh?
Khứu giác được xử lý ở vùng não gần với những vùng phụ trách cảm xúc và trí nhớ. Vì vậy một mùi hương quen như mùi xôi, mùi cơm mới có thể gợi lại cả một quãng đời, đôi khi rất đột ngột và mạnh mẽ hơn cả nhìn một tấm ảnh.
Vì sao truyện ma về người đã khuất hay xoay quanh đồ ăn?
Trong văn hóa Việt, đồ ăn là cách thể hiện tình thương, từ mâm cơm gia đình tới mâm cỗ cúng giỗ. Truyện ma kể người đã khuất còn nấu, còn gửi đồ ăn cho người sống là cách nói rằng tình thương không mất đi cùng người mất.
Gánh hàng sáng sớm có ý nghĩa gì với người lao động ca đêm?
Với người làm ca đêm, bữa sáng sau giờ tan ca thường là bữa chính trong ngày. Những gánh xôi, xe bánh mì, quán phở mở từ tờ mờ sáng không chỉ là chỗ ăn rẻ và tiện, mà còn là chỗ được hỏi han, chỗ thấy mình vẫn thuộc về một nơi nào đó.
Vì sao người già sống một mình hay gắn bó với người lạ quen mặt?
Người già sống một mình dễ cô đơn, nên những người gặp hằng ngày như khách quen, hàng xóm trở thành mối quan hệ quan trọng. Chăm sóc một người khác, như gói cho họ phần xôi nhiều hơn, giúp người già cảm thấy mình còn có ích và được cần đến.
Làm thế nào để quan tâm tới người già sống một mình quanh mình?
Hỏi thăm khi gặp, ghé qua khi thấy họ vắng mặt bất thường, lưu số điện thoại người thân của họ nếu được. Mua hàng của những người bán nhỏ lớn tuổi cũng là một cách giúp đỡ. Những việc rất nhỏ ấy đôi khi là sợi dây duy nhất nối họ với cộng đồng.