Gần một giờ sáng, khi ba anh em đang gà gật quanh bếp lửa, có tiếng dép lẹp xẹp ngoài ngõ, rồi một người đàn ông lạ đẩy cổng bước vào, xoa hai tay, hỏi xin ngồi sưởi một lúc.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, ngôi làng và những người trong truyện đều do mình đặt ra. Người kể là anh cả trong nhà, kể lại một đêm canh bánh năm anh hai mươi tuổi.
Nồi bánh đêm hai mươi tám
Nhà mình ở một làng trung du, đồi chè bao quanh, cuối năm sương xuống trắng cả lối đi. Năm nào cũng vậy, chiều hai mươi tám cả nhà gói bánh, tối bắc nồi. Cái nồi đồng to bằng cái thùng phuy, đặt trên ba hòn kê giữa sân.
Năm ấy bố đau lưng, mẹ bận làm cỗ, nên giao cho ba anh em canh. Mình là anh cả, rồi đến thằng Lâm mười bảy, con Thảo mười tám. Bố dặn củi gộc chất bên vách, nước nóng để trong ấm, thấy nồi cạn thì châm, đừng để lửa lúc to lúc nhỏ, bánh sẽ sượng.
Lúc đầu vui lắm. Ba đứa nướng khoai, kể chuyện ma, trêu nhau. Lửa reo tí tách, khói thơm mùi lá dong luộc. Nhưng qua nửa đêm, sương lạnh thấm vào lưng, mắt ba đứa díp lại.
Đúng lúc ấy có tiếng dép ngoài ngõ. Cổng tre két một tiếng. Một người đàn ông chừng năm mươi tuổi bước vào, áo bông bạc màu, mũ len trùm kín tai, mặt gầy, râu lún phún.
Người họ xa ở xóm trên
Ông chào ba anh em rất tự nhiên, bảo là người họ xa ở xóm trên, đi chơi về khuya, thấy lửa thì ghé sưởi. Ông ngồi xổm xuống, chìa hai bàn tay gầy về phía bếp. Mình định hỏi tên, ông đã cầm que cời gạt lại mấy thanh củi, lửa bùng lên đều đặn.
Ông kể chuyện làng xưa. Ông biết cái giếng đầu làng ngày trước có hai gáo dừa treo. Biết năm nào lụt lội, năm nào mất mùa. Ông kể năm đói, cả làng gói bánh chưng bằng gạo độn sắn, nhân chỉ có đỗ, chẳng có miếng thịt nào, vậy mà ai cũng mong Tết.
Con Thảo hỏi sao chú biết nhiều thế. Ông cười, bảo người già trong họ hay kể. Rồi ông nhắc tới ông cố nhà mình, người mà ba anh em chỉ biết qua bức ảnh mờ trên bàn thờ. Ông bảo ông cố gói bánh vuông nhất làng, không cần khuôn.
Thằng Lâm ngáp dài. Ông nhìn ba đứa, bảo các cháu cứ chợp mắt đi, chú trông cho, chú quen thức khuya rồi. Giọng ông ấm và chắc, nghe yên lòng lạ. Mình định từ chối, nhưng không hiểu sao gật đầu.
Lửa đều cả đêm
Mình tựa lưng vào vách bếp, nghe tiếng lửa reo và tiếng nước sôi lục bục trong nồi. Mắt khép hờ, mình vẫn thấy dáng ông ngồi xổm bên bếp, thỉnh thoảng đứng dậy châm nước, cử chỉ thong thả như người đã làm việc này cả đời.
Rồi mình ngủ thật. Trong giấc ngủ chập chờn, mình nghe ông khe khẽ hát một câu gì đó rất cũ, chữ được chữ mất. Mùi khói, mùi lá dong và mùi sương trộn lẫn, đặc quánh.
Mình tỉnh dậy khi gà gáy lần hai. Trời còn mờ, sương phủ trắng sân. Ông không còn ở đó. Lửa dưới nồi vẫn đều, không to không nhỏ, than đỏ rực. Nước trong nồi châm đầy đến vạch, ấm nước bên cạnh đã được đổ thêm.
Mình gọi hai đứa em dậy. Ba đứa nhìn nhau, thấy ngượng vì đã ngủ quên, rồi thấy lành lạnh. Củi gộc bên vách vơi đi đúng một đống, xếp lại gọn gàng. Bố ra sân, vớt thử một chiếc bánh, bảo năm nay bánh rền nhất từ trước tới giờ.
Vệt chân tro
Mẹ hỏi ai trông lửa giỏi thế. Ba anh em kể. Mẹ hỏi người ấy tên gì, ở xóm nào. Không ai nhớ ông đã nói tên. Bố đi hỏi khắp xóm trên, không nhà nào có người họ xa như thế, cũng không ai đi chơi về khuya đêm hai mươi tám.
Con Thảo là người thấy trước. Từ chỗ bếp ra cổng, trên nền đất phủ sương, có một vệt dấu chân nhạt màu tro, như người vừa giẫm vào đống tro bếp rồi đi ra. Dấu chân to, gót bẹt, đều nhau.
Ba anh em lần theo. Vệt chân tro ra khỏi cổng, đi dọc con ngõ lát gạch, nhạt dần, nhạt dần. Tới gốc cây gạo cuối ngõ thì hết, như người đi tới đó rồi nhấc chân lên không đặt xuống nữa.
Mình đứng dưới gốc gạo rất lâu. Gió sớm thổi qua đồi chè, lạnh buốt. Mình nhớ lại câu cuối cùng ông nói trước khi mình ngủ, câu mà mình tưởng đã quên. Ông bảo năm sau chú lại qua, nhà mình bánh ngon, chú thích ngồi đây.
Năm sau
Năm sau, đêm hai mươi tám, ba anh em lại canh bánh. Lần này không đứa nào dám ngủ. Ba đứa ngồi sát nhau, nói chuyện to hơn mức cần, cứ một lúc lại liếc ra cổng.
Gần một giờ sáng, ngoài ngõ có tiếng ho khẽ, khàn khàn, rồi tiếng dép lẹp xẹp dừng lại ngay sau cánh cổng tre. Không ai đẩy cổng. Ba đứa ngồi im, nghe tim đập thình thịch. Thằng Lâm nắm chặt cái que cời.
Một lúc lâu sau, tiếng dép lại vang lên, xa dần về phía gốc gạo. Ba anh em không ai đứng dậy mở cổng. Lửa cháy tiếp, nước sôi tiếp, mà lòng mình cứ thấy như vừa từ chối một người khách.
Sáng ra, ngay cạnh cổng tre, có một bó củi gộc khô buộc lạt tre, xếp ngay ngắn, thớ gỗ còn thơm mùi rừng. Bố đem vào chất bên vách. Năm nào sau đó, đêm hai mươi tám, nhà mình cũng để một chiếc ghế con cạnh bếp lửa, và không ai ngồi vào chiếc ghế ấy.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao người ta canh nồi bánh chưng suốt đêm?
Bánh chưng cần luộc liên tục nhiều giờ, lửa phải đều và nước phải luôn ngập bánh. Lửa lúc to lúc nhỏ hay để nồi cạn đều làm bánh sượng hoặc không rền. Vì vậy ở nhiều làng, canh nồi bánh thành một sinh hoạt chung của cả nhà đêm cuối năm.
Bánh chưng gắn với truyền thuyết nào?
Truyền thuyết kể rằng hoàng tử Lang Liêu, con vua Hùng, làm bánh chưng vuông tượng trưng cho đất và bánh giầy tròn tượng trưng cho trời để dâng vua cha, được vua khen và truyền ngôi. Từ đó bánh chưng thành món không thể thiếu ngày Tết.
Vì sao người ta dễ ngủ quên bên bếp lửa?
Hơi ấm từ lửa làm cơ thể thư giãn, tiếng lửa reo và nước sôi đều đều như tiếng ru, cộng thêm đêm khuya là lúc cơ thể vốn đã muốn ngủ. Ngồi gần bếp than trong không gian kín còn có thể thiếu không khí, nên canh lửa luôn phải ở nơi thoáng.
Vì sao truyện ma Tết hay có người khách lạ?
Tết là dịp đoàn tụ, nên hình ảnh một người khách không rõ từ đâu đến tạo ra sự đối lập mạnh. Người khách lạ cũng gợi tới niềm tin dân gian rằng ông bà tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu. Truyện ma vì thế vừa rờn rợn vừa ấm áp.
Vì sao dấu chân trên nền sương hiện rõ vào sáng sớm?
Ban đêm hơi nước đọng thành lớp sương mỏng trên mặt đất. Chỗ có người giẫm lên, lớp sương bị ép và trộn với bụi tro, đất ở đế giày, nên khi trời sáng sẽ hiện thành vệt khác màu. Khi nắng lên, sương bay hơi và dấu chân nhạt dần.