Lá thư đầu tiên bà Tư nhét qua khe tường chỉ có một dòng, hỏi bên ấy có ai không, và ba hôm sau, ở đúng khe tường ấy, có một mảnh giấy gấp tư nằm chờ bà.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu do mình viết, kể qua những lá thư. Bà Tư, đứa cháu và hai căn nhà liền vách đều là nhân vật mình đặt ra. Mình sẽ đọc từng lá, bạn nghe chậm thôi.
Lá thứ nhất và lá trả lời
Bà Tư sống một mình trong căn nhà mái ngói ở một thị trấn ven sông. Căn nhà bên cạnh, liền vách, bỏ trống đã gần chục năm từ khi chủ cũ đi nước ngoài. Ở chân tường chung phía sau bếp có một viên gạch lỏng, rút ra được, hồi xưa hai nhà vẫn chuyền nhau chén muối, nắm hành qua cái lỗ ấy.
Một tối mất ngủ, bà viết lên mảnh giấy lịch: bên ấy có ai không, cho bà hỏi một câu. Bà nhét qua khe tường cho vui, như người ta thả chai xuống biển.
Ba hôm sau, bà rút viên gạch ra lấy cái kéo rơi sang thì thấy một mảnh giấy gấp tư. Chữ viết tay, nét gọn, mực xanh: bà cứ hỏi, bên này nghe đây. Bà Tư đứng tựa tường bếp một lúc lâu. Bà sợ, nhưng hơn cả sợ, bà thấy có ai đó vừa ngồi xuống cạnh mình.
Bà viết lá thứ hai, hỏi người bên ấy là ai. Lá trả lời chỉ bảo: là người hàng xóm, bà gọi sao cũng được. Bà đặt tên là cậu Vách, cho gọn.
Những lá thư mùa mưa
Suốt mùa mưa năm ấy, bà Tư và cậu Vách viết cho nhau đều đặn, mỗi tuần hai ba lá. Bà kể chuyện chợ, chuyện con mèo mướp ăn vụng cá khô, chuyện ông nhà mất lúc nào, chuyện đứa cháu nội đang học năm cuối đại học trên thành phố, chủ nhật nào cũng về thăm bà.
Cậu Vách viết ngắn hơn, nhưng lá nào cũng có một câu hỏi lại, như người biết nghe. Bà kể đau lưng, cậu dặn đừng xách nước nặng. Bà kể mất ngủ, cậu chép cho bà mấy câu ca dao để đọc trước khi tắt đèn. Bà kể chuyện cái đồng hồ treo tường hỏng, sáng hôm sau đồng hồ chạy lại, kim đúng giờ.
Có lần bà thử rình. Bà ngồi sau bếp cả đêm, mắt dán vào viên gạch. Không có tiếng động nào, không có bóng người nào bên kia khe tường. Gần sáng bà ngủ gật. Lúc tỉnh dậy, trong khe đã có lá thư mới, mở đầu bằng câu: bà đừng thức khuya, hại sức.
Bà Tư không kể với ai, kể cả đứa cháu nội. Bà sợ người ta bảo bà lẩm cẩm, sợ người ta lấp cái lỗ tường lại.
Chủ nhật đứa cháu không về
Mùa khô, đứa cháu nội của bà tốt nghiệp, được nhận học bổng đi học tiếp ở một nước xa. Nó về chào bà, ôm bà rất lâu, hứa tuần nào cũng gọi điện. Bà cười, bảo cháu cứ đi, bà có bạn rồi.
Tuần sau, bà viết cho cậu Vách một lá dài, kể chuyện cháu đi, kể bà khóc ở bến xe. Ba ngày, rồi năm ngày, không có lá trả lời. Lần đầu tiên khe tường trống trơn.
Bà Tư lo đến mất ăn. Bà sợ cậu Vách giận, sợ cậu đi đâu, sợ chính mình đã tưởng tượng ra tất cả. Bà mở cửa căn nhà bên cạnh, cánh cửa sắt đã gỉ chỉ khép hờ, lần đầu tiên bước vào sau mười năm.
Trong căn bếp bên ấy, ngay dưới khe tường, bà thấy một chiếc ghế nhựa thấp, một hộp bút bi mực xanh, một tập giấy học trò, và một bao bánh quy loại đứa cháu bà vẫn ăn khi còn bé. Bụi phủ đều quanh phòng, chỉ có một lối mòn sạch từ cửa sau đi tới chiếc ghế.
Cuộc gọi từ nơi rất xa
Tối hôm đó, đứa cháu gọi về. Bà Tư hỏi thẳng. Bên kia im rất lâu, rồi nó cười, giọng nghẹn: bà phát hiện rồi à.
Nó kể, hồi đầu năm, một chủ nhật về thăm, nó tình cờ thấy bà nhét giấy qua khe tường. Nó đọc được lá thư hỏi bên ấy có ai không, chữ bà run run, và nó không chịu được. Từ đó, mỗi chủ nhật về, nó lẻn sang nhà bên, đọc thư của bà, viết sẵn mấy lá trả lời rồi nhờ cô hàng xóm đầu ngõ thỉnh thoảng nhét vào giúp. Cái đồng hồ là nó thay pin.
Bà Tư vừa khóc vừa cười, mắng nó nghịch dại. Nó xin lỗi, bảo giờ cháu đi xa rồi, không viết được nữa, bà đừng buồn, tuần nào cháu cũng gọi.
Đêm ấy bà ngủ một giấc dài như người vừa đặt xuống một gánh nặng. Mọi chuyện đã có lời giải thích. Mọi chuyện, trừ một chuyện nhỏ bà quên hỏi: lá thư hôm bà rình cả đêm, ai đã nhét vào khe tường lúc gần sáng, khi cả ngõ còn ngủ.
Lá thư cuối cùng
Hai tháng sau, cô hàng xóm đầu ngõ chuyển nhà vào Nam. Đứa cháu đã nói không viết nữa. Căn nhà bên cạnh được người ta khoá lại bằng ổ khoá mới, chìa khoá gửi về cho chủ ở nước ngoài.
Một sáng đầu đông, bà Tư rút viên gạch ra để lấy chiếc khăn rơi sang. Trong khe tường có một mảnh giấy gấp tư. Giấy không phải giấy học trò, mà là giấy dó, sờ vào thô ráp. Mực không phải mực xanh, mà là mực tím đã nhạt màu.
Bà mở ra. Nét chữ nghiêng, đẹp, kiểu chữ người đi học thời xưa. Thư viết: mấy tháng nay đọc ké thư của mình với thằng cháu, vui lắm. Ở bên này buồn, mình cứ viết tiếp, có người nghe.
Bà Tư nhìn nét chữ rất lâu. Rồi bà vào nhà, mở ngăn tủ, lấy ra xấp thư cũ ông nhà viết cho bà từ hồi hai người còn đi tìm hiểu, mực tím, giấy dó. Bà đặt hai tờ cạnh nhau. Rồi bà cầm bút, ngồi xuống bên khe tường, bắt đầu viết lá thư mới, mở đầu bằng hai chữ ông ơi.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao truyện kể qua thư từ lại cuốn hút?
Thư chỉ cho người nghe thấy một phía, phần còn lại phải tự lấp đầy bằng tưởng tượng. Khoảng trống ấy làm câu chuyện thân mật hơn và cũng dễ gợi rợn hơn.
Nhà liền vách ngày xưa có lỗ thông với nhau không?
Ở nhiều phố và thị trấn cũ, nhà liền vách có khi chung tường, hàng xóm thân thiết qua lại rất gần. Chi tiết viên gạch lỏng trong truyện là hư cấu, gợi từ nếp sống chòm xóm tối lửa tắt đèn có nhau.
Vì sao người già sống một mình hay trò chuyện với đồ vật?
Trò chuyện, dù với đồ vật hay vật nuôi, là cách giữ cho mình cảm giác có người bầu bạn. Đây là phản ứng tự nhiên trước cô đơn, và nên được người thân quan tâm nhiều hơn.
Vì sao nét chữ viết tay gợi nhớ người đã khuất mạnh như vậy?
Nét chữ mang dấu riêng của từng người, như giọng nói hay dáng đi. Nhìn lại nét chữ, người ta như nghe thấy người viết, nên thư cũ thường được giữ rất lâu.
Truyện ma có kết ấm có làm người nghe bớt sợ không?
Có. Kết ấm biến cái rợn thành sự an ủi. Nhiều truyện dân gian cũng kể hồn người thân trở về để trông nom, như một cách nói về tình thương còn ở lại.