ChuyenMa.comPodcast truyện ma kể lúc đêm khuya
Rằm, Tết và lễ hội

Truyện ma hội vật đầu xuân: Đô vật đóng khố vải cũ

Hội vật làng năm ấy có một đô vật lạ, đóng chiếc khố vải nâu bạc màu, quật ngã hết các keo mà không nhận giải, chỉ xin một bát nước. Cụ từ giữ đình mở hòm đồ thờ thì lặng người.

🎙️
📑 Nội dung theo chương
  1. 0:28 Năm làng định bỏ hội
  2. 1:23 Người đàn ông ở góc xới
  3. 2:15 Chín keo vật
  4. 3:12 Bát nước ở cửa đình
  5. 4:01 Chiếc khố trong hòm đồ thờ
  6. 4:58 Câu hỏi thường gặp
🔊 Bản audio (lồng nhạc nền)

Keo vật thứ chín trong buổi chiều mùng sáu ấy, người đàn ông đóng chiếc khố vải nâu bạc màu chỉ khẽ lách người một cái, và đô vật giỏi nhất làng bên ngã ngửa ra cát mà không hiểu vì sao mình ngã.

Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, ngôi làng và những người trong truyện đều do mình đặt ra. Truyện kể về một hội vật đầu xuân ở một làng đồng bằng Bắc Bộ, vào cái năm làng suýt thì bỏ hội.

Năm làng định bỏ hội

Làng Đông có lệ mở hội vật từ mùng bốn tới mùng sáu Tết, xới vật đặt ngay trước cửa đình. Nghe các cụ kể, xưa kia đô vật làng Đông có tiếng khắp vùng, trai làng ai cũng phải biết dăm thế vật mới được coi là trưởng thành.

Mấy chục năm sau, trai làng đi làm ăn xa gần hết. Hội vật năm nào cũng thưa dần, đô vật làng nhà chỉ còn vài người đã ngoài bốn mươi. Năm ấy, trưởng ban khánh tiết họp làng, đề nghị bỏ hội vật, thay bằng văn nghệ cho đỡ tốn kém.

Cụ Khiêm, người giữ đình, ngồi cuối buổi họp không nói gì. Đến lúc biểu quyết, cụ mới đứng lên, bảo năm nay là năm cuối, cứ mở cho trọn, sang năm làng muốn bỏ thì bỏ. Cả làng nể cụ, đành đồng ý.

Thế là xới vật lại được đắp. Người ta đổ cát mới, căng dây tre, dựng cột cờ, khiêng trống cái ra đặt cạnh xới. Chỉ có điều đô vật làng Đông năm ấy đếm đi đếm lại chỉ được ba người, trong khi làng bên kéo sang tới bảy đô vật trẻ.

Người đàn ông ở góc xới

Hai ngày đầu, ba đô vật làng Đông thua liền. Người làng đứng xem cứ cúi đầu, có người bỏ về. Đô vật làng bên vui vẻ, mời nhau bia, bàn chuyện năm sau sang lấy luôn giải.

Chiều mùng sáu, keo cuối cùng của hội, ông chủ xới gõ trống gọi đô vật ra tranh giải. Đô vật mạnh nhất làng bên bước vào, vỗ tay lên ngực chào khán giả. Không ai làng Đông dám bước ra.

Đúng lúc ấy, từ góc xới gần gốc đa, một người đàn ông bước vào. Anh ta chừng ba mươi, người gầy mà rắn, da sạm như đồng hun, đóng một chiếc khố vải nâu đã bạc, mép khố có thêu một đường chỉ đỏ nhỏ. Không ai trong làng nhận ra anh ta.

Ông chủ xới hỏi anh ở đâu. Người đàn ông chỉ tay về phía đình, nói một câu rất khẽ, bảo người làng Đông. Rồi anh ta vái chào bốn phía theo đúng lễ xưa, hai tay chắp lại, cúi người thật thấp, cái lễ mà đô vật bây giờ chẳng mấy ai còn làm.

Chín keo vật

Keo đầu tiên kết thúc nhanh tới mức khán giả chưa kịp hò. Đô vật làng bên lao tới, người đàn ông lùi nửa bước, nghiêng vai, và đối thủ nằm ngửa trên cát. Ông chủ xới ngẩn ra một lúc mới đánh trống báo thắng.

Làng bên không chịu, cử đô vật thứ hai, rồi thứ ba. Người đàn ông thắng hết. Anh ta vật không nhanh, không mạnh, chỉ đúng. Mỗi lần đối thủ dồn lực, anh ta như biết trước, mượn chính sức người ta mà quật. Các cụ đứng xem bắt đầu xì xào, bảo đây là thế vật cổ, lâu lắm rồi không thấy.

Tới keo thứ chín, cả làng Đông đã đứng hết dậy, hò reo vang cả cánh đồng. Đô vật cuối cùng của làng bên ngã xuống, rồi ngồi dậy, chắp tay vái người đàn ông, xin học thế vật ấy. Người đàn ông chỉ mỉm cười.

Mình nhớ một chi tiết người làng kể lại nhiều năm sau. Suốt chín keo vật, trên cát không hề có dấu chân của người đàn ông ấy. Chỉ có dấu chân đối thủ, dấu lưng họ ngã xuống, còn chỗ anh ta đứng thì cát vẫn phẳng như vừa cào.

Bát nước ở cửa đình

Ban tổ chức mời người đàn ông lên nhận giải, có cờ đỏ, có phong bì, có cả con lợn làng góp. Anh ta lắc đầu. Anh ta chỉ hỏi xin một bát nước, nước giếng đình, múc bằng gáo dừa.

Cụ Khiêm tự tay đi múc. Người đàn ông đón bát nước bằng hai tay, uống chậm rãi, uống cạn, rồi trả bát. Anh ta nhìn quanh sân đình một lượt, nhìn cái giếng, nhìn cây đa, nhìn mái ngói rêu, như người đi xa lâu ngày về nhìn lại nhà.

Anh ta nói với cụ Khiêm một câu mà chỉ cụ nghe rõ. Cụ kể lại rằng anh ta bảo, đừng để xới vật nguội, cát nguội rồi thì khó đắp lại lắm. Nói xong, anh ta đi ra phía cổng đình, nơi đám đông còn đang chen chúc.

Bọn trẻ chạy theo xin chụp ảnh. Tới cổng thì không thấy anh ta đâu nữa. Người đứng ở cổng bảo không có ai đóng khố đi ra cả, cả buổi chiều chẳng ai đi qua lối ấy.

Chiếc khố trong hòm đồ thờ

Tối hôm ấy, cụ Khiêm mở cái hòm gỗ sơn son để trong hậu cung đình, nơi cất đồ thờ và những vật làng giữ từ đời trước. Cụ lục tới đáy hòm, lấy ra một chiếc khố vải nâu gấp vuông vức, mép thêu một đường chỉ đỏ nhỏ.

Đó là chiếc khố của đô vật giỏi nhất làng Đông ngày trước, người mà các cụ chỉ nhắc bằng cái tên Cả Vật. Ông giữ giải làng nhiều năm liền, rồi đi xa và không trở về. Làng giữ chiếc khố của ông trong hòm đình, coi như giữ cái hồn của xới vật.

Cụ Khiêm mở chiếc khố ra. Vải khô, nếp gấp còn nguyên. Nhưng ở gấu khố có dính mấy hạt cát vàng, thứ cát mới đổ xuống xới vật mùng bốn, cái loại cát mà làng mua từ bãi sông về, sáng màu hơn cát cũ.

Sang năm, làng Đông không bỏ hội vật nữa. Trai làng ở xa về sớm hơn để tập. Năm nào khai hội, cụ Khiêm cũng múc một bát nước giếng đình đặt ở góc xới, cạnh gốc đa. Cuối buổi, bát nước bao giờ cũng cạn, và cát quanh đó phẳng lì như vừa có người cào.

Câu hỏi thường gặp

Hội vật đầu xuân là gì?

Hội vật là trò chơi thượng võ phổ biến ở nhiều làng quê Bắc Bộ vào dịp đầu năm. Đô vật cởi trần, đóng khố, thi đấu trong xới vật trải cát hoặc đất mềm, có trống thúc và người cầm trịch. Hội vật vừa là dịp rèn sức khoẻ vừa là nghi lễ cầu mùa của làng.

Vì sao đô vật vái chào trước khi vào xới?

Màn chào trước keo vật, thường gọi là xe đài, là nghi thức thể hiện sự kính trọng với thần làng, với khán giả và với đối thủ. Đô vật đi vòng, vỗ tay, vái bốn phương rồi mới vào thế. Mỗi vùng có cách chào riêng.

Thế vật mượn sức đối thủ có thật không?

Nhiều môn vật và võ trên thế giới đều dạy nguyên tắc dùng lực của đối phương để làm họ mất thăng bằng, thay vì đối đầu sức với sức. Trong truyện, đó là cách để người nghe hình dung một đô vật lão luyện, còn chi tiết không để lại dấu chân là phần hư cấu.

Vì sao người ta hay tưởng tượng người xưa trở về trong ngày hội?

Lễ hội là lúc cả cộng đồng nhớ về quá khứ, các cụ kể chuyện đời trước, đồ cũ được mang ra. Khi ký ức chung được khơi dậy mạnh như vậy, câu chuyện về người xưa trở về dự hội trở thành một cách để làng nói với nhau rằng truyền thống vẫn còn sống.

Vì sao nhiều hội làng truyền thống đang thưa dần?

Khi người trẻ đi học, đi làm xa, nhiều trò chơi cần đông người tập luyện như vật, đua thuyền, đánh đu khó duy trì. Ngược lại, ở nhiều nơi, chính dịp hội làng lại là lý do để con cháu ở xa trở về, nên các làng vẫn tìm cách giữ hội.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.