Một cồn đất vừa nhô lên khỏi mặt nước, chưa ai đặt chân tới, vậy mà trên lớp bùn non đã có sẵn những dấu chân trần, đi thẳng hàng từ mép nước lên giữa cồn.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, dòng sông, cồn đất và người nông dân đều do mình đặt ra. Bạn xắn quần lội lên bùn non cùng mình nhé.
Cồn đất sau mùa lũ
Mùa lũ năm ấy lớn, nước đỏ ngầu cuồn cuộn suốt ba tháng. Khi nước rút, người làng ven sông thấy giữa dòng, chỗ xưa nay chỉ là nước sâu, nhô lên một doi đất dài, bằng phẳng, phủ lớp phù sa mịn như bánh mới hấp.
Ở làng ai cũng biết, cồn mới nổi là của trời cho. Đất phù sa non béo ngậy, cắm cây gì lên cây nấy. Nhưng cồn cũng như khách, có khi ở lâu thành làng, có khi chỉ ở một mùa rồi lại chìm. Không ai đoán được.
Ông Quý là người đầu tiên chèo xuồng ra. Ông năm mươi tám tuổi, cả đời làm ruộng thuê, chưa bao giờ có một mảnh đất riêng. Ông nghĩ, cồn mới nổi, ai tới trước khai phá trước, biết đâu đây là cơ hội cuối đời.
Ông cột xuồng vào một cái cọc tre mang theo, xắn quần bước lên. Bùn non lún tới mắt cá, lạnh và mềm. Ông bước thêm vài bước, rồi đứng sững lại.
Những dấu chân trần thẳng hàng
Trước mặt ông, trên mặt bùn phẳng lì chưa có một cọng cỏ, là một hàng dấu chân trần. Dấu chân người lớn, ngón cái xoè, gót sâu, cách nhau đều đặn. Chúng bắt đầu từ mép nước bên kia, đi thẳng lên giữa cồn.
Ông Quý nhìn quanh. Không có xuồng nào khác, không có dấu xuồng cập, không có cọc buộc. Nước rút mới hai ngày, bùn còn nhão, ai lên đây ông phải thấy. Mà dấu chân thì sắc nét như vừa in xuống sáng nay, nước còn đọng trong lòng dấu.
Ông đi theo hàng dấu chân. Giữa cồn, hàng dấu chân dừng lại, rồi tách ra thành nhiều hàng. Có dấu chân to, dấu chân nhỏ, dấu chân người đi khập khiễng. Chúng đi vòng quanh, chụm lại, tản ra, như có cả một nhóm người đứng đó làm việc gì.
Ông thấy giữa đám dấu chân có những lỗ nhỏ xếp thành hàng ngay ngắn trên bùn, cách nhau chừng một gang tay. Ông là nông dân, ông biết ngay. Đó là những lỗ cắm mạ.
Cắm mạ trên đất của người khác
Ông Quý về làng, không kể với ai chuyện dấu chân. Ông sợ người ta cười, cũng sợ người ta giành đất. Sáng hôm sau ông chở mạ ra, cắm kín một góc cồn, ngay cạnh đám lỗ nhỏ kia.
Mỗi sáng ông ra, dấu chân lại nhiều thêm. Có những hàng dấu chân đi giữa ruộng mạ của ông, cẩn thận bước giữa các hàng, không giẫm cây nào. Có hôm ông thấy mạ của mình được dặm lại, chỗ cây chết có cây mới cắm thế vào, khéo hơn tay ông.
Ông bắt đầu thấy rờn rợn, mà cũng thấy ấm lòng lạ lùng. Ông thử để lại trên bờ cồn một vò nước chè xanh và mấy củ khoai lang luộc. Sáng ra, vò nước cạn, khoai còn nguyên, nhưng vỏ khoai được bóc ra xếp gọn bên cạnh.
Có một đêm ông ở lại trên cồn, nằm trong xuồng canh. Gần sáng, sương xuống dày, ông nghe tiếng lội bùn lép nhép, tiếng người nói chuyện rì rầm bằng một giọng ông nghe như quen như lạ. Ông nghe họ bàn chuyện con nước, chuyện mạ, chuyện mùa. Ông không dám ngồi dậy nhìn.
Người làng cũ dưới đáy sông
Ông Quý tìm tới bà cụ già nhất làng, kể hết. Bà cụ ngồi im, nhai trầu, rồi nói, chỗ cồn ấy hồi bà còn nhỏ cũng có một cồn y như vậy. Trên cồn có một xóm nhỏ chừng chục nóc nhà, người ta trồng lúa, trồng dưa.
Một năm lũ lớn bất thường, cồn lở dần trong một đêm. Người trong xóm kịp chèo xuồng vào bờ, không ai mất mạng, nhưng nhà cửa ruộng vườn chìm hết. Họ tản đi các nơi, có người lên thành phố, có người theo con cháu đi xa, giờ chắc cũng đã khuất núi cả rồi.
Bà cụ nói, người ta ở đâu thì nhớ đất ấy. Có lẽ cồn nổi lên lại thì họ cũng về thăm, như mình đi xa về thăm nhà cũ. Họ không giành của ai đâu, họ chỉ cắm lại mấy bụi mạ cho đỡ nhớ.
Ông Quý ngẫm nghĩ mấy ngày. Rồi ông chèo ra cồn, thắp mấy nén nhang ở giữa ruộng mạ, nói lớn: đất này của bà con trước, con chỉ xin làm chung. Mùa này được bao nhiêu con chia bao nhiêu.
Ruộng mạ trôi thẳng hàng
Mùa ấy, lúa trên cồn tốt lạ lùng. Hạt chắc, bông nặng trĩu. Người làng kéo ra xem, ai cũng khen ông Quý tay mát. Ông chỉ cười, không nói gì. Ông dự định gặt xong sẽ làm một mâm cơm cúng ngay trên cồn.
Nhưng chỉ còn ba ngày nữa là gặt, nước sông lên bất thường, đục ngầu. Người già bảo đây là con nước lạ. Ông Quý lo lắng chèo ra cồn. Ông thấy nước đã liếm vào mép ruộng, bùn ven cồn lở từng mảng.
Đêm đó cồn chìm. Sáng ra, giữa sông chỉ còn nước chảy mênh mông, như chưa từng có doi đất nào. Ông Quý đứng trên bờ, lòng trống trơn. Rồi ông thấy từ phía thượng nguồn, trôi dọc theo mép nước, là những bụi lúa của ông.
Lúa không trôi lộn xộn như rác. Từng bụi lúa đứng thẳng trên mặt nước, xếp thành hàng ngay ngắn, trôi chầm chậm vào bờ ngay trước mặt ông, như có ai đó đang bưng từng bụi, lội nước đưa vào. Ông lội xuống, ôm lấy từng bụi lúa, và dưới chân ông, trên lớp bùn ven bờ, có một hàng dấu chân trần đi ngược ra phía sông, rồi chìm vào trong nước.
Câu hỏi thường gặp
Cồn bãi giữa sông hình thành như thế nào?
Khi dòng sông chậm lại ở những đoạn rộng hoặc khúc quanh, phù sa lắng đọng dần, lâu ngày nhô lên thành cồn. Sau một mùa lũ lớn, cồn có thể bồi thêm, dịch chuyển, hoặc bị xói lở mất.
Vì sao dấu chân trên bùn non giữ được lâu?
Bùn phù sa mịn, ẩm và dẻo nên in dấu rất rõ, nếu không bị nước tràn qua hay mưa xoá thì dấu chân có thể giữ nhiều ngày. Đó cũng là lý do bùn ven sông thường lưu lại dấu chân chim, cua và người.
Canh tác trên cồn bãi mới nổi có những rủi ro gì?
Đất cồn màu mỡ nhưng không ổn định, có thể bị ngập hoặc xói lở khi con nước thay đổi. Người dân thường trồng cây ngắn ngày và theo dõi kỹ mực nước, tránh dựng nhà kiên cố khi cồn chưa ổn định.
Vì sao truyện ma hay có chi tiết người xưa trở về đất cũ?
Gắn bó với quê hương là cảm xúc rất sâu trong văn hoá Việt, nên truyện kể thường tưởng tượng người đã khuất vẫn nhớ đất cũ và quay về. Những truyện như vậy vừa rùng rợn vừa ấm áp, nhắc người sống trân trọng nơi mình sinh ra.
Vì sao nghe tiếng người nói trong sương đêm dễ thấy rờn rợn?
Sương làm âm thanh trầm và mờ đi, khó đoán khoảng cách và hướng, nên tiếng nói từ xa nghe như ở rất gần. Khi không thấy người nói, trí tưởng tượng sẽ lấp chỗ trống, và cảm giác rờn rợn xuất hiện.