Mỗi năm một lần, đúng sáng ngày giỗ ông, có một con bồ câu trắng đáp xuống chuồng gỗ trên mái nhà, và ở chân nó, buộc rất khéo, là một sợi len màu nâu sẫm.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu do mình viết. Căn nhà, ông cụ và cô cháu gái đều là nhân vật mình đặt ra. Truyện này không có tiếng động lạ nào, chỉ có tiếng cánh chim.
Ông và đàn bồ câu
Ông nội An nuôi bồ câu từ hồi còn thanh niên. Chuồng gỗ đặt trên sân thượng căn nhà ba tầng ở một khu phố cũ, chuồng sơn xanh, có mái tôn nhỏ, có cái bậc gỗ để chim đáp. Hồi An còn nhỏ, đàn bồ câu của ông có lúc lên tới năm chục con.
Ông không nuôi để ăn, cũng không nuôi để bán. Ông nuôi bồ câu đưa thư, loại biết bay về chuồng từ rất xa. Mỗi dịp, ông mang mấy con đi thật xa, thả, rồi về nhà ngồi trên sân thượng chờ. Chim về, ông vui như trẻ con.
Mùa đông nào ông cũng quàng một chiếc khăn len màu nâu sẫm, bà nội đan cho ông từ hồi hai người mới cưới. Khăn sờn, thủng mấy lỗ, bà đòi đan cái mới, ông không chịu. Ông bảo khăn này bồ câu quen mùi, thay khăn là chim không nhận ra ông.
An lớn lên với tiếng gù của bồ câu mỗi sáng. Cô thường lên sân thượng ngồi cạnh ông, nghe ông kể con nào bay giỏi, con nào nhát, con nào đi lạc ba ngày mới về.
Đàn chim bay đi
Ông mất vào mùa đông năm An học năm hai đại học. Ông đi nhẹ nhàng, trong giấc ngủ trưa, chiếc khăn len vẫn quàng trên cổ. Cả nhà để khăn theo ông.
Không ai trong nhà biết nuôi bồ câu. Bố An cho chim ăn được mấy tuần, rồi bận, quên. Đàn chim thưa dần. Con này bay đi không về, con kia sang chuồng nhà khác. Tới mùa xuân, chuồng gỗ trên sân thượng trống trơn, chỉ còn vài chiếc lông trắng mắc ở mép mái tôn.
Bố An định dỡ chuồng. An xin giữ lại. Cô lên sân thượng lau chuồng, sơn lại lớp sơn xanh đã bong, đổ một ít thóc vào máng, dù biết chẳng con nào về ăn.
Rồi cô đi làm xa, ở thành phố khác. Chuồng chim nằm im trên mái, mưa nắng bạc màu.
Sáng ngày giỗ đầu
Giỗ đầu ông, An về nhà từ tối hôm trước. Sáng sớm, cô lên sân thượng thắp hương, theo thói quen nhìn về phía chuồng gỗ.
Trên bậc đáp có một con bồ câu trắng. Lông trắng muốt, mắt đỏ hồng, đứng im, nghiêng đầu nhìn cô. An không nhớ đàn chim của ông có con nào trắng tinh như thế. Cô rón rén lại gần. Con chim không bay đi. Nó để yên cho cô nâng lên.
Ở chân phải nó, chỗ người ta hay buộc ống thư, có một sợi len màu nâu sẫm, buộc vòng hai lần, thắt nút gọn gàng. An nhìn sợi len, tay run. Cô nhận ra màu len ấy, sờ cái là biết độ thô ráp ấy. Đó là len của chiếc khăn quàng ông mang theo.
Con bồ câu ở lại suốt buổi sáng, ăn thóc trong máng, uống nước, rỉa lông trên mái. Đúng lúc mâm cỗ giỗ được dọn lên, nó vỗ cánh bay lên, lượn ba vòng trên mái nhà, rồi bay thẳng về phía đông, khuất sau những dãy nhà cao.
Năm nào cũng về
An kể chuyện với bố mẹ. Bố cô im lặng. Mẹ cô bảo chắc chim của ai đó bay lạc, sợi len chắc vướng ở đâu. Nhưng bà nội, đã ngoài tám mươi, nghe xong thì đòi An đưa sợi len cho bà xem. Bà vuốt sợi len giữa hai ngón tay rất lâu, rồi cất vào hộp trang sức, không nói gì.
Năm sau, giỗ thứ hai, An về từ sớm, lên sân thượng chờ. Bảy giờ sáng, con bồ câu trắng đáp xuống bậc gỗ. Ở chân nó vẫn là một sợi len nâu sẫm, buộc vòng hai lần.
Năm thứ ba, năm thứ tư, năm nào cũng vậy. Có năm mưa to, cả nhà nghĩ chim không về, An vẫn ngồi chờ dưới mái tôn, và gần trưa thì nó về, lông ướt sũng, nhưng sợi len ở chân vẫn khô ráo, như được ai cầm ô che cho suốt đường bay.
Bà nội dành một hộp gỗ nhỏ để cất những sợi len. Năm nào nhận sợi len mới, bà cũng ngồi bên cửa sổ, đan nó vào một cái khăn đang dang dở. Bà đan rất chậm, mỗi năm chỉ thêm một sợi.
Chiếc khăn đan xong
Mười năm sau ngày ông mất, bà nội đã yếu, mắt mờ gần hết. Sáng ngày giỗ năm ấy, An bế bà lên sân thượng, đặt bà ngồi trên chiếc ghế mây cạnh chuồng chim. Trong lòng bà là cái khăn len dang dở, chỉ còn thiếu vài mũi.
Con bồ câu trắng về đúng giờ. Lần này nó không đáp xuống bậc gỗ mà bay thẳng tới, đậu lên tay bà. Bà nội cười, gỡ sợi len ở chân nó, run run đan nốt những mũi cuối cùng. An đứng bên cạnh, không dám thở mạnh.
Bà đan xong, cắt chỉ, rồi quàng chiếc khăn lên cổ mình. Con bồ câu dụi đầu vào khăn, gù lên mấy tiếng trầm trầm, đúng cái tiếng gù An vẫn nghe mỗi sáng hồi nhỏ, khi ông còn ngồi trên sân thượng này.
Rồi nó bay đi, lượn ba vòng, bay về phía đông. Năm sau, nó không về nữa. Bà nội cũng không còn. Trên sân thượng, chuồng gỗ vẫn xanh, máng vẫn có thóc, và mỗi sáng ngày giỗ, An vẫn lên ngồi đó, ngước nhìn về phía đông, nơi hai chấm trắng thỉnh thoảng hiện lên rất xa, bay sát cạnh nhau.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao bồ câu đưa thư biết đường về chuồng?
Bồ câu có khả năng định hướng rất tốt. Các nhà khoa học cho rằng chúng dựa vào nhiều tín hiệu như vị trí mặt trời, từ trường trái đất, mùi và địa hình quen thuộc, cơ chế cụ thể vẫn còn được nghiên cứu.
Nuôi bồ câu trên sân thượng cần lưu ý gì?
Chuồng cần thoáng, sạch, có mái che mưa nắng, thức ăn và nước sạch. Phân chim nên được dọn thường xuyên và người nuôi nên rửa tay kỹ sau khi chăm chim.
Tục giỗ của người Việt có ý nghĩa gì?
Ngày giỗ là dịp con cháu tưởng nhớ người đã khuất, sum họp gia đình, dâng cơm cúng và kể lại kỷ niệm. Đây là nét văn hoá gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Vì sao chim chóc hay xuất hiện trong truyện về người đã mất?
Ở nhiều nền văn hoá, chim được xem là sứ giả nối trời và đất, có thể bay đi bay về. Hình ảnh con chim quay lại vào ngày giỗ vì thế dễ gợi cảm giác người thân vẫn còn gửi lời thăm.
Vì sao đồ vật người đã khuất để lại có sức nặng tình cảm lớn?
Món đồ gắn liền với thói quen của người ấy giữ lại một phần ký ức cụ thể. Chạm vào nó, người ở lại cảm thấy gần hơn với người đã mất.