Chiều nào cũng vậy, cứ lúc khói lam vừa bò lên khỏi các mái bếp, lại có tiếng gõ khẽ vào cánh cửa bếp và một giọng già hỏi xin một hòn than.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu ở một làng đồng bằng Bắc Bộ, kể về một cô con dâu mới về và bà cụ hàng xóm hay sang xin lửa. Mọi nhân vật đều là đặt ra.
Về làm dâu
Hạnh lấy chồng về làng vào cuối mùa thu. Nhà chồng cô ở đầu một xóm nhỏ chừng mười nóc nhà, nép dưới lũy tre. Cô quen nấu bằng bếp ga, nhưng mẹ chồng vẫn giữ cái bếp rơm trong gian bếp đất, bảo cơm nấu rơm mới thơm, nước chè nấu rơm mới đượm.
Chiều thứ ba sau ngày cưới, Hạnh đang ngồi nhóm bếp rơm giúp mẹ chồng thì nghe tiếng gõ cửa bếp. Một bà cụ nhỏ thó, tóc búi củ hành, mặc áo nâu bạc màu, tay cầm một chiếc mo cau khô, đứng ở ngưỡng cửa.
Bà cười móm mém, bảo nhà bà hết diêm, cho bà xin hòn than nhóm bếp. Hạnh ngơ ngác một chút, rồi gắp một hòn than đỏ đặt lên chiếc mo cau. Bà cụ cảm ơn, cầm mo cau đi ra ngõ, đi về phía cuối xóm.
Lúc mẹ chồng từ ngoài vườn vào, Hạnh kể có bà cụ sang xin lửa. Mẹ chồng hỏi bà cụ thế nào. Hạnh tả. Mẹ chồng không nói gì, chỉ ngồi xuống bên bếp, cời lửa lên to hơn.
Hòn than mỗi chiều
Từ hôm ấy, chiều nào bà cụ cũng sang. Đúng lúc chạng vạng, đúng lúc khói lam bắt đầu bò lên khỏi các mái bếp trong xóm. Vẫn chiếc mo cau ấy, vẫn câu xin ấy, vẫn nụ cười móm mém ấy.
Hạnh định mua cho bà một hộp diêm. Cô ra chợ mua hẳn một bó mười hộp, chiều ấy đưa cho bà. Bà cụ cầm hộp diêm, lật qua lật lại, rồi trả lại cho Hạnh, bảo diêm thì nhà bà có chứ, bà chỉ thích xin lửa thôi, xin lửa thì có người nói chuyện.
Rồi bà đứng lại thêm một lúc ở cửa bếp, hỏi Hạnh quê ở đâu, nhà mấy anh chị em, đã quen ăn rau muống luộc chấm tương chưa. Bà khen Hạnh nhóm bếp khéo, bảo con gái thành phố mà biết thổi lửa rơm không bị khói cay mắt là giỏi.
Hạnh dần quen với bà. Có chiều trời mưa, bà không sang, cô thấy thiếu thiếu. Có chiều cô cố ý nhóm bếp sớm để bà sang thì đã có than sẵn.
Khói lam cuối xóm
Một chiều, Hạnh tò mò đi theo bà cụ. Bà đi chậm, tay che mo cau cho hòn than khỏi tắt, đi qua bốn năm cái cổng, tới ngôi nhà cuối xóm thì rẽ vào. Hạnh đứng ở đầu ngõ nhìn theo.
Ngôi nhà ấy Hạnh đã để ý từ lâu. Mái ngói xô lệch, tường vôi bong từng mảng, cửa chính đóng then, sân mọc đầy cỏ may. Ai nhìn cũng biết đó là nhà bỏ không đã nhiều năm.
Vậy mà một lúc sau, từ gian bếp nhỏ sau nhà, một sợi khói lam mảnh mai bay lên, thẳng như sợi chỉ, hoà vào khói của cả xóm trong ánh chiều tím. Mùi rơm cháy thoang thoảng. Có cả tiếng nồi đất kêu lục bục.
Hạnh đứng đó tới khi trời tối hẳn. Khói vẫn bay. Nhưng không có ánh đèn nào trong nhà, không có tiếng người, và cỏ may trong sân không có một vệt nào bị rẽ ra cho người đi qua.
Chuyện bà Tư
Tối ấy, Hạnh hỏi mẹ chồng. Lần này mẹ chồng kể. Ngôi nhà cuối xóm là nhà bà Tư. Bà Tư goá chồng từ trẻ, không con cái, sống một mình mấy chục năm. Hồi ấy nhà bà nghèo lắm, nhiều hôm không có tiền mua diêm, chiều nào cũng cầm mo cau sang các nhà trong xóm xin hòn than.
Mẹ chồng bảo, về sau con cháu họ hàng có gửi tiền, bà Tư có đủ diêm, có cả bật lửa, nhưng chiều nào bà vẫn đi xin lửa. Cả xóm biết bà không cần lửa. Bà cần người nói chuyện. Nên nhà nào cũng để sẵn hòn than, và ai cũng đứng lại với bà một lúc ở cửa bếp.
Bà Tư mất vào một mùa đông, đã hơn mười năm. Bà mất trong giấc ngủ, êm ả, hàng xóm sang lo hậu sự đầy đủ. Từ đó ngôi nhà bỏ không, họ hàng ở xa chưa về ở.
Mẹ chồng bảo, bà Tư sang xin lửa nhà người mới về, có lẽ vì bà muốn làm quen. Rồi mẹ chồng nhìn Hạnh, bảo con cứ cho bà xin, đừng sợ, bà hiền lắm.
Lửa cuối mùa
Hạnh không sợ. Chiều nào cô cũng nhóm bếp rơm, để sẵn một hòn than đẹp nhất bên miệng bếp. Bà cụ vẫn sang, vẫn hỏi han, vẫn khen, có hôm còn dặn Hạnh nấu canh cua thì cho thêm mấy quả cà pháo cho ngọt nước.
Rồi tới một chiều cuối đông, bà cụ sang, cầm hòn than mà không đi ngay. Bà đứng ở cửa bếp nhìn Hạnh lâu hơn mọi khi, rồi bảo xóm mình có người mới rồi, có người nhóm bếp rồi, bà đi xin lửa thế là đủ.
Chiều hôm sau bà không sang. Chiều hôm sau nữa cũng không. Hạnh đi ra đầu ngõ nhìn về cuối xóm. Ngôi nhà bỏ không đứng im trong chiều tím, không còn sợi khói lam nào bay lên.
Sáng hôm sau mở cửa bếp, Hạnh thấy trên bậc cửa có một bó rơm nếp khô, buộc lạt gọn gàng, rơm vàng óng thơm mùi nắng, đúng thứ rơm nhóm bếp đượm nhất. Hạnh ôm bó rơm vào, nhóm bếp, rồi đứng ở cửa bếp một lúc lâu, như đứng nói chuyện với một người hàng xóm vừa đi xa.
Câu hỏi thường gặp
Tục xin lửa ở làng quê xưa là thế nào?
Ngày trước diêm còn hiếm và đắt, nhà nào tắt bếp thường sang nhà hàng xóm xin một hòn than hay mồi lửa bằng mo cau, bùi nhùi. Việc xin lửa cũng là dịp hỏi han nhau, giữ tình xóm giềng.
Vì sao khói bếp lúc chạng vạng thường bay thẳng lên?
Chiều tối không khí thường lặng gió và lớp không khí gần mặt đất ổn định, nên khói ấm bay lên thành sợi mảnh, ít bị thổi tạt. Cảnh khói lam chiều vì thế rất đặc trưng ở làng quê.
Vì sao người già sống một mình hay tìm cớ sang nhà hàng xóm?
Sự cô đơn khiến người ta cần những lần gặp gỡ nhỏ mỗi ngày. Một lý do nhỏ như xin lửa, mượn đồ giúp họ có cớ trò chuyện mà không phải ngại.
Vì sao ta dễ thấy bóng dáng người quen ở chỗ cũ của họ?
Não người lưu những hình ảnh quen thuộc gắn với nơi chốn. Khi ở đúng chỗ, đúng giờ, ánh sáng mờ và tâm trạng nhớ thương, ta dễ cảm thấy người ấy vẫn đang ở đó.
Truyện này có thật không?
Không, đây là truyện hư cấu do Chuyện Ma sáng tác. Hạnh, bà Tư và xóm nhỏ dưới lũy tre đều là đặt ra.