Tiếng trống thứ nhất vang lên lúc nửa đêm, trầm và rền, và cả làng đổ ra sân đình mới nhận ra nó không đến từ đình, mà từ cái ao trước cửa đình, mặt nước loang ra những vòng tròn theo đúng nhịp trống.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, ngôi làng và những người trong truyện đều do mình đặt ra. Truyện kể về một chiếc trống đình và một cái ao làng.
Chiếc trống vỡ mặt
Làng Vĩnh mở hội đình vào mùng mười tháng giêng. Mở hội phải có trống cái khai hội, chiếc trống to đặt trên giá ở gian bên đình, mặt trống bằng da trâu, đánh lên rền cả mấy xóm.
Năm ấy, ba ngày trước hội, mấy thanh niên đánh thử trống thì mặt trống rách toạc một đường dài. Da trống đã cũ, mùa đông khô hanh, đánh mạnh một cái là nứt. Ông thủ từ giữ đình đứng nhìn, mặt tái đi.
Làng bàn nhau mua trống mới. Nhưng trống cái đình làng phải đặt thợ làm, căng da, phơi, mất cả tháng. Mượn trống làng bên thì làng bên cũng đang mở hội. Mua trống nhỏ thì các cụ không chịu, bảo trống khai hội mà nhỏ thì thần làng không nghe thấy.
Cả làng lo. Có người bảo năm nay khai hội bằng chiêng thôi. Ông thủ từ lắc đầu, bảo hội làng Vĩnh từ xưa tới nay chưa năm nào khai hội không có trống.
Đêm áp hội
Đêm mùng chín, đêm áp hội, ông thủ từ ngủ lại ở đình như mọi năm. Gần nửa đêm, ông nghe tiếng trống. Thùng, thùng, thùng, ba tiếng chậm, rồi một hồi dồn dập, đúng hồi trống khai hội của làng.
Ông vùng dậy chạy ra gian bên. Chiếc trống vỡ mặt vẫn nằm im trên giá. Tiếng trống vẫn vang, rền mặt đất dưới chân. Ông chạy ra sân đình.
Trước cửa đình là cái ao làng, ao vuông, nước đen thẫm, bờ có mấy cây gạo. Dưới ánh trăng mười, mặt ao gợn lên những vòng tròn đồng tâm, loang từ giữa ao ra bờ, mỗi vòng đúng một nhịp trống.
Người làng nghe tiếng trống cũng đổ ra. Cả trăm người đứng quanh bờ ao, nhìn những vòng tròn trên mặt nước, nghe tiếng trống rền từ đáy ao vọng lên. Không ai nói được câu nào. Hồi trống kéo dài một lúc lâu, rồi dứt, mặt ao phẳng lặng.
Lời cụ già nhất làng
Sáng hôm sau, người ta khiêng cụ Thìn, cụ già nhất làng, năm ấy đã gần trăm tuổi, ra sân đình. Cụ nghe kể, ngồi im rất lâu, rồi nói một câu khiến cả làng lặng đi.
Cụ bảo hồi cụ còn trẻ, làng Vĩnh có một chiếc trống đình cổ, to hơn chiếc bây giờ, tang bằng gỗ mít, mặt da trâu, đánh lên nghe được tận chân đê. Hồi loạn lạc, làng sợ trống bị lấy mất, nên một đêm, mấy cụ trong làng bọc trống bằng vải dầu, buộc đá, dìm xuống giữa ao trước đình để giấu.
Cụ bảo các cụ hẹn yên ổn thì vớt lên. Nhưng rồi người biết chuyện lần lượt mất, người đi xa, chẳng ai còn nhớ chính xác chỗ dìm. Sau này làng đặt chiếc trống mới, chiếc vừa vỡ mặt, và quên hẳn chiếc trống cũ dưới ao.
Cụ Thìn bảo, cụ là người cuối cùng còn nhớ chuyện ấy, mà cụ cũng tưởng mình nhớ nhầm. Giờ thì cụ biết là không nhầm.
Tát ao
Ngay sáng mùng mười, cả làng tát ao. Thanh niên mang máy bơm, người già mang gầu sòng, đàn bà trẻ con đứng xem. Nước rút dần, lộ ra lớp bùn đen. Người ta lội xuống giữa ao, dùng sào dò.
Gần trưa, sào chạm vào một vật cứng. Mười mấy thanh niên xúm vào đào bùn, kéo lên một khối tròn to bọc vải dầu đã mục, dây thừng buộc đá đã đứt. Người ta xối nước rửa bùn. Một chiếc trống cổ hiện ra, tang gỗ mít sẫm màu, đai đồng xanh rỉ, mặt da trâu đã chùng nhưng không rách.
Ông thủ từ ôm lấy tang trống, nước mắt chảy ròng. Cụ Thìn ngồi trên bờ, gật đầu, bảo đúng nó, đúng nó.
Thợ trống làng bên được mời sang gấp. Ông thợ xem xét, bảo tang trống còn tốt lạ lùng, chỉ cần căng lại da, phơi một buổi. Ông làm suốt chiều, cả làng phụ một tay. Tới tối, chiếc trống cổ được đặt lên giá trong đình.
Hồi trống khai hội
Hội làng Vĩnh năm ấy khai muộn một ngày. Sáng mùng mười một, ông thủ từ cầm dùi, đánh ba tiếng chậm, rồi một hồi dồn dập. Tiếng trống rền vang, trầm và ấm, tới tận chân đê. Cả làng reo hò.
Cụ Thìn ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh trống, nhắm mắt nghe. Cụ bảo đúng tiếng ấy, tiếng của hồi cụ còn con gái, cả đời cụ không quên.
Mùa xuân năm ấy cụ Thìn mất, nhẹ nhàng, sau hội ít hôm. Chiếc trống cổ được giữ trong đình, chỉ đánh vào dịp hội. Chiếc trống vỡ mặt được thay da, đặt ở gian bên, ngày thường đánh.
Cái ao trước đình được nạo vét, thả sen. Mùa hè sen nở kín mặt ao. Có những đêm trăng, người đi đêm qua đình kể, thấy mặt ao gợn lên những vòng tròn nhỏ, nhịp nhàng, như có ai đang gõ nhẹ đầu ngón tay lên một mặt trống ở rất sâu, rồi dừng lại, nghe ngóng xem làng có còn nhớ không.
Câu hỏi thường gặp
Trống đình có vai trò gì trong làng xưa?
Trống đình dùng để báo hiệu các sự kiện của làng như khai hội, tế lễ, họp làng, báo động. Tiếng trống là tín hiệu chung của cả cộng đồng, vì vậy trống đình được làng giữ gìn rất cẩn thận, coi như một vật thiêng.
Trống truyền thống được làm thế nào?
Tang trống thường làm bằng gỗ như gỗ mít, ghép thành thân trống, mặt trống căng da trâu hoặc da bò đã thuộc, cố định bằng đinh tre hoặc đinh đồng. Làm trống to đòi hỏi tay nghề cao, nhiều làng nghề trống truyền thống vẫn còn ở Việt Nam.
Vì sao ngày xưa người ta giấu đồ quý dưới ao?
Trong thời loạn lạc, người dân có thể chôn giấu đồ quý dưới đất, dưới ao để tránh mất mát. Bùn ao ít không khí giúp đồ gỗ bền hơn. Trong truyện, chuyện dìm trống là hư cấu nhưng dựa trên cách giấu đồ quen thuộc của người xưa.
Vì sao mặt ao có thể gợn vòng tròn khi không có gió?
Cá quẫy, bọt khí từ bùn đáy nổi lên, côn trùng chạm mặt nước, hay rung động từ xe cộ, tiếng ồn lớn gần đó đều có thể tạo vòng tròn trên mặt ao. Trong truyện, chi tiết vòng tròn theo nhịp trống là phần hư cấu.
Vì sao âm thanh trầm như tiếng trống nghe như vọng từ mặt đất?
Âm thanh tần số thấp truyền đi xa và có thể lan qua mặt đất, mặt nước, khiến người nghe khó xác định nguồn. Ở nơi có ao, đê, tường đình, tiếng trống dội lại nhiều lần nên nghe như phát ra từ khắp nơi.