Mình hát câu ấy chỉ để thử, một câu cổ mà ông nội dạy, chắc mẩm cả làng không ai đối được, vậy mà từ phía cuối chiếu, một giọng nữ trong như nước giếng mùa xuân cất lên đối lại, không sai một chữ.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, ngôi làng và những người trong truyện đều do mình đặt ra. Người kể là một liền anh hai mươi lăm tuổi, kể về một đêm hát canh trong ngày hội xuân.
Câu hát của ông nội
Mình lớn lên ở một làng quan họ, nhà có ba đời hát. Ông nội mình là liền anh có tiếng, dạy mình từ năm mình mười tuổi. Ông dạy kỹ lắm, mỗi câu hát phải ngân đúng chỗ, nảy đúng hơi, rồi mới dạy lời.
Ông dạy mình một câu cổ mà ông bảo bây giờ gần như không ai hát nữa. Câu ấy dài, có lối luyến lên rồi ngắt hơi rất lạ, phải có người đối đúng thì mới thành bài. Ông bảo hồi trẻ ông hát câu ấy với một liền chị làng bên, hai người đối nhau suốt mấy mùa hội.
Mình hỏi liền chị ấy giờ ở đâu. Ông chỉ cười, bảo bà ấy theo chồng đi xa, lâu lắm rồi không gặp. Rồi ông bảo nếu sau này mình hát câu ấy mà có người đối được, thì phải mời người ta một miếng trầu cho tử tế.
Ông mất được ba năm. Mình đi học, đi làm ở thành phố, mỗi năm chỉ về được dịp hội. Câu hát của ông, mình vẫn nhớ, nhưng chưa từng hát trước ai.
Đêm hát canh
Năm ấy làng mình kết chạ với làng bên, đêm mười hai tháng giêng có hát canh ở nhà chứa của một cụ trong làng. Gian nhà gỗ ba gian, giữa trải chiếu hoa, bày trầu cau, chè nóng, đèn dầu thắp cho có không khí, dù nhà có điện.
Liền anh làng mình ngồi một bên, liền chị làng bên ngồi một bên. Hát canh không có sân khấu, không có loa, người hát ngồi đối diện nhau, hát cho nhau nghe. Ai đến xem thì ngồi quanh, im lặng mà nghe.
Hát được mấy giọng, liền chị làng bên đố mình một câu khó. Mình đối được. Đến lượt mình đố lại, mình nghĩ ngay tới câu của ông nội. Mình cất giọng, ngân lên cái đoạn luyến lạ mà ông dạy.
Cả gian nhà im phăng phắc. Các liền chị làng bên nhìn nhau, lắc đầu. Không ai biết câu này. Mình hơi ngượng, định hát tiếp cho trọn để khỏi làm khó người ta, thì từ cuối chiếu, sát cửa sổ, có tiếng đối lại.
Người ngồi sát cửa sổ
Đó là một người con gái chừng hai mươi, mặc áo tứ thân màu nâu non, đội nón quai thao, ngồi hơi khuất sau cột nhà. Mình không nhớ cô ấy vào từ lúc nào. Cô ấy hát rất nhỏ, mà tiếng vang khắp gian nhà.
Cô ấy đối đúng từng chữ, luyến đúng từng chỗ, ngắt hơi đúng như cách ông nội mình ngắt. Có một đoạn mình quên lời, cô ấy hát chậm lại, như cố ý chờ, để mình nghe theo mà nhớ ra.
Mình với cô ấy đối nhau trọn câu cổ ấy, rồi thêm hai câu nữa cũng là những câu ông dạy. Mấy cụ ngồi xem gật gù, có cụ lấy khăn chấm mắt. Mình hát mà thấy nổi da gà, không phải vì sợ, mà như có ai đứng sau lưng chỉnh hơi cho mình.
Hết câu, mình nhớ lời ông dặn, đứng dậy cầm đĩa trầu đi về phía cửa sổ để mời. Cô ấy cúi đầu, mỉm cười, đưa tay nhận một miếng trầu. Tay cô ấy lạnh như sương đêm tháng giêng.
Cụ nghệ nhân
Mình quay về chỗ ngồi, định hỏi tên người ta để mai sang làng bên tìm. Ngoảnh lại thì chỗ cạnh cửa sổ trống trơn. Chỉ có chiếc chiếu hoa, và miếng trầu mình vừa mời đặt ngay ngắn trên mép chiếu, đã được têm lại thành hình cánh phượng.
Ngồi trong góc nhà là cụ Thư, nghệ nhân lớn tuổi nhất làng bên, năm ấy đã ngoài chín mươi. Cụ gọi mình lại gần. Cụ hỏi ai dạy con câu ấy. Mình kể về ông nội.
Cụ im lặng một lúc lâu. Rồi cụ kể, ngày trước làng cụ có một liền chị hát hay nhất vùng, hay đối với một liền anh làng mình. Hai người hát với nhau đẹp lắm, ai cũng nghĩ sẽ thành đôi. Nhưng nhà gái gả chị ấy đi xa, sang một vùng khác, rồi bặt tin.
Cụ bảo, chị ấy têm trầu cánh phượng khéo nhất làng, mỗi miếng trầu têm xong đều có một nếp gấp riêng ở đuôi cánh. Cụ cầm miếng trầu mình mang lại, lật lên. Ở đuôi cánh phượng có đúng một nếp gấp nhỏ, gọn, như ai đó đã ký tên.
Mùa hội năm sau
Mình không biết người liền chị đêm ấy là ai. Mình hỏi khắp làng bên, không ai có con gái mặc áo nâu non ngồi cạnh cửa sổ. Có người bảo chắc là cô nào ở làng khác sang xem rồi về sớm. Mình gật đầu, nhưng mình không tin.
Mình mang miếng trầu cánh phượng về đặt lên bàn thờ ông. Mẹ mình hỏi trầu đâu mà têm đẹp thế. Mình kể. Mẹ ngồi xuống, bảo hồi mẹ mới về làm dâu, có lần ông say, ông hát câu ấy một mình ngoài hiên, hát xong ông bảo ước gì được nghe người ta đối lại một lần nữa.
Từ năm ấy, mùa hội nào mình cũng về hát canh. Mình dạy câu cổ của ông cho hai đứa em họ, dạy kỹ như ông đã dạy mình, ngân đúng chỗ, nảy đúng hơi, rồi mới dạy lời.
Đêm hát canh nào mình cũng để trống một chỗ sát cửa sổ và đặt ở đó một miếng trầu. Sáng hôm sau, miếng trầu bao giờ cũng còn nguyên. Nhưng có năm, mình nghe rất rõ, lúc hát tới đoạn luyến lạ ấy, có một giọng nữ khẽ ngân theo, nhỏ thôi, chỉ đủ để mình không quên lời.
Câu hỏi thường gặp
Hát canh quan họ là gì?
Hát canh là lối hát quan họ truyền thống, diễn ra trong nhà, liền anh và liền chị ngồi đối diện nhau trên chiếu, hát đối đáp suốt đêm, có trầu nước tiếp đãi. Đây là hình thức thân mật nhất của quan họ, khác với hát trên sân khấu hay hát hội ngoài trời.
Quan họ Bắc Ninh được công nhận thế nào?
Dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm hai nghìn không trăm linh chín. Không gian quan họ gắn với các làng quan họ cổ ở vùng Kinh Bắc.
Kết chạ là gì?
Kết chạ là tục kết nghĩa giữa hai làng, thường là hai làng quan họ. Hai làng coi nhau như anh em, mùa hội sang thăm nhau, hát với nhau. Theo lệ cũ, liền anh liền chị hai làng kết chạ không lấy nhau, giữ tình bạn hát trong sáng.
Têm trầu cánh phượng là gì?
Đây là cách têm miếng trầu cầu kỳ, gấp và cắt lá trầu thành hình cánh chim phượng, cài cau, trông rất đẹp. Trong lễ hội quan họ, miếng trầu têm cánh phượng là lời mời trân trọng của chủ nhà dành cho khách.
Vì sao nghe hát dân ca có người nổi da gà?
Những đoạn nhạc chạm đến cảm xúc mạnh, nhất là gắn với ký ức gia đình, có thể khiến cơ thể phản ứng như nổi da gà, rùng mình hay rơm rớm nước mắt. Đây là phản ứng cảm xúc bình thường khi âm nhạc gợi lại điều thân thương.