Cả sân đình vỗ tay theo nhịp trống, chỉ có ông cụ hàng ghế đầu là vỗ lệch, lệch đều đặn, như đang vỗ theo một nhịp trống khác.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện đêm nay là truyện hư cấu mình viết, đoàn chèo, ngôi làng và ông cụ đều do mình đặt ra. Đây là một truyện ma vui, có cả tiếng trống chèo, tiếng phách và một câu hát cổ.
Đoàn chèo về làng dịp hội
Hội làng năm ấy, ban tổ chức mời một đoàn chèo nhỏ ở tỉnh về diễn hai đêm. Sân đình quét sạch, trải chiếu cạp điều giữa sân, treo đèn lồng đỏ dọc hai bên. Người làng mang ghế nhựa ra ngồi từ chập tối, trẻ con chen chúc đằng trước.
Đào chính đêm ấy là Hiền, cô diễn viên trẻ nhất đoàn, mới ra trường được hai năm. Đây là lần đầu cô được giao vai chính trong một trích đoạn chèo cổ. Cô run lắm. Trước giờ diễn, cô ra sau đình, thắp hương xin phép, rồi đứng một mình ôn lại mấy câu hát khó.
Có một câu làn điệu cổ cô hát mãi không ưng. Thầy dạy cô bảo câu ấy ngày xưa các nghệ nhân luyến khác, nhưng bây giờ không còn ai hát đúng lối cũ. Cô đành hát theo bài đã ghi âm.
Tiếng trống chầu nổi lên. Đêm diễn bắt đầu.
Ông cụ vỗ tay lệch nhịp
Ngay từ trích đoạn đầu, Hiền đã để ý ông cụ ngồi giữa hàng ghế đầu. Ông mặc áo the đen, đội khăn xếp, chống gậy trúc. Người làng bây giờ ít ai mặc áo the đi xem hát, cô nghĩ chắc ông là cụ từ coi đình.
Ông xem chăm chú lắm, không nói chuyện, không cắn hạt dưa. Nhưng mỗi lần cả sân vỗ tay, ông vỗ lệch. Không phải lệch lung tung. Ông vỗ lệch đúng nửa nhịp, đều đặn, như đang vỗ theo một tiếng trống mà chỉ ông nghe thấy.
Anh kép đóng cặp với Hiền thì thầm, bảo ông cụ chắc nghễnh ngãng. Nhưng Hiền để ý thấy một điều lạ. Mỗi lần cô hát, ông cụ khẽ lắc đầu ở đúng chỗ câu làn điệu cổ cô không ưng. Ông lắc rất nhẹ, như thầy giáo nghe học trò đọc sai.
Đến trích đoạn cuối, khi Hiền hát câu khó ấy, ông cụ đặt gậy xuống, vỗ hai tay vào đùi, và cô nghe rõ, giữa tiếng đàn nhị, có tiếng ông chép miệng: chưa được.
Câu hát cổ trên chiếu chèo
Đêm diễn kết thúc. Người làng vỗ tay rào rào rồi tản ra. Hiền ngồi lại trên mép chiếu, tháo khăn mỏ quạ, buồn thiu. Đúng lúc ấy, ông cụ áo the chống gậy bước lên chiếu.
Ông không nói gì nhiều. Ông gõ gậy trúc xuống chiếu ba cái, làm nhịp. Rồi ông hát đúng câu làn điệu cổ ấy. Giọng ông già, rè, hụt hơi, nhưng chỗ luyến thì lạ lắm, uốn lượn như dòng nước chảy qua kẽ đá. Hiền nghe mà nổi da gà. Đó chính là lối hát thầy cô nói đã mất.
Ông bắt cô hát lại. Một lần, hai lần, năm lần. Ông gõ gậy, chỉnh từng chữ, từng hơi, bảo chỗ này phải nén, chỗ kia phải thả, hát chèo là hát cho người ngồi chiếu dưới nghe, không phải hát cho cái loa. Mấy anh chị trong đoàn đang dọn đồ đứng lại xem, ai cũng ngạc nhiên vì ông cụ nói toàn những điều sách vở chưa ghi.
Lần thứ sáu, Hiền hát trọn câu. Ông cụ gật đầu, nói gọn: được rồi. Rồi ông cầm gậy, bước xuống chiếu, lẫn vào đám người đang về. Hiền chạy theo định hỏi tên ông, nhưng không thấy ông đâu nữa.
Tấm ảnh treo trong đình
Sáng hôm sau, Hiền đi hỏi khắp làng. Cụ từ coi đình là một ông cụ khác, nhỏ người, không có áo the. Không ai trong làng biết ông cụ áo the chống gậy trúc. Có người bảo chắc khách làng bên sang xem.
Cụ từ dẫn Hiền vào trong đình, chỉ lên bức tường bên trái, nơi treo mấy tấm ảnh đen trắng đóng khung kính. Đó là ảnh phường chèo của làng ngày xưa, chụp từ thời các cụ còn diễn ở sân đình mỗi mùa hội.
Hiền nhìn tấm ảnh và đứng sững. Ngồi giữa hàng đầu, tay chống gậy trúc, áo the khăn xếp, chính là ông cụ đêm qua. Dưới ảnh có dòng chữ viết tay đã mờ, ghi ông là trùm phường, người cầm trống chầu, giỏi nhất vùng về làn điệu cổ.
Cụ từ cười hiền, bảo làng này có lệ, đêm hát chèo đầu tiên của hội bao giờ cũng để trống một ghế giữa hàng đầu. Năm nay ban tổ chức đông người quá, quên mất. Chắc ông cụ không có chỗ, phải tự xếp ghế ngồi.
Đêm diễn thứ hai và nhịp vỗ tay
Đêm thứ hai, Hiền xin ban tổ chức để trống một ghế giữa hàng đầu. Cô đặt lên ghế một chén nước chè và một miếng trầu têm cánh phượng.
Khi cô hát câu làn điệu cổ, cả sân đình lặng đi. Mấy cụ già trong làng rơm rớm nước mắt, bảo lâu lắm mới nghe lại lối hát này. Thầy của cô, người ngồi trong đoàn, đánh rơi cả dùi trống.
Hát xong, cả sân đình vỗ tay. Hiền nghe giữa tiếng vỗ tay ấy có một nhịp vỗ lệch đúng nửa nhịp, đều đặn, phát ra từ chiếc ghế trống hàng đầu. Chén nước chè đã vơi một nửa.
Từ đó, đoàn chèo của Hiền có thêm một lệ. Diễn ở làng nào, đêm đầu tiên cũng để trống một ghế hàng đầu. Mấy anh chị trong đoàn bảo để phòng thầy chấm thi đến kiểm tra bất ngờ. Ai hát sai, đêm ấy thế nào cũng nghe sau lưng tiếng chép miệng: chưa được.
Câu hỏi thường gặp
Chèo là loại hình nghệ thuật như thế nào?
Chèo là sân khấu dân gian truyền thống, phát triển mạnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, kết hợp hát, múa, diễn và nhạc cụ dân tộc. Chèo xưa thường diễn trên chiếu ở sân đình, nên có câu chiếu chèo.
Trống chầu trong chèo dùng để làm gì?
Người cầm trống chầu ngồi ở hàng khán giả, đánh trống để khen hoặc chê diễn viên. Tiếng trống chầu vừa là lời đánh giá, vừa là cách giữ không khí cho buổi diễn.
Vì sao nhìn ảnh cũ thấy người quen lại gây cảm giác rợn?
Não nhận diện khuôn mặt rất nhanh. Khi một gương mặt ta vừa gặp xuất hiện trong bối cảnh không thể có, ví dụ ảnh chụp từ rất lâu, sự mâu thuẫn ấy gây cảm giác lạ và bất an.
Tục để trống một ghế cho người đã khuất có ở đâu?
Nhiều nền văn hoá có tục dành chỗ ngồi hoặc mâm cơm cho người đã khuất trong dịp lễ, giỗ, Tết. Đó là cách nhớ ơn người đi trước, không phải một nghi thức gọi hồn.
Vì sao truyện ma có nghệ nhân xưa trở về lại hay gợi cảm xúc?
Vì nó chạm vào nỗi tiếc những giá trị đang mất dần. Hình ảnh người thầy cũ trở về truyền lại một câu hát cho người trẻ là ước mong nghề xưa có người nối tiếp.