Ở làng biển, sau mỗi cơn bão, có một kiểu chờ đợi không giống bất cứ kiểu chờ nào khác: chờ mà không dám nấu cơm cho người đi, cũng không dám không nấu.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này hư cấu, làng chài và những con người trong truyện là do mình đặt ra. Mình nói trước để bạn yên lòng: trong truyện này không ai mất cả, nhưng có một bữa cơm mà tới giờ cả làng vẫn không giải thích được.
Ba ngày chờ tàu sau bão
Cơn bão cuối mùa quét qua làng chài trong một đêm, giật tung mái tôn, quật đổ hàng dương ven biển. Sáng ra, tàu thuyền neo trong vũng đã về đủ. Chỉ thiếu một chiếc, tàu của ông Năm, đi biển xa từ tuần trước với năm người trong làng.
Bộ đàm im lặng. Điện thoại vệ tinh không gọi được. Ngày thứ nhất, các bà vợ ra bãi đứng nhìn ra khơi tới tối. Ngày thứ hai, có người bắt đầu khóc. Ngày thứ ba, bà vợ ông Năm vẫn nấu đủ một nồi cơm to, bày sáu cái bát, rồi ngồi nhìn nồi cơm nguội dần.
Biên phòng và cứu hộ đã ra khơi tìm. Cả làng thắp hương ở lăng Ông đầu xóm. Không ai dám nói ra cái chữ mà ai cũng đang nghĩ.
Chiều ngày thứ ba, lúc mặt trời vừa lặn, một đứa trẻ đang chơi trên bãi chạy về gào lên: tàu về, tàu ông Năm về.
Đoàn thuỷ thủ không nói một lời
Cả làng đổ ra bãi. Trong ánh hoàng hôn đỏ ối, con tàu sơn xanh với đôi mắt vẽ ở mũi chầm chậm vào bờ. Máy không nổ, mà tàu vẫn trôi vào thẳng như có người kéo. Năm người đàn ông bước xuống, lội nước lên bờ.
Họ ướt sũng, tóc bết muối, mặt mũi bình thản lạ thường. Vợ con ào ra ôm chầm lấy. Họ ôm lại, nhưng không ai nói lời nào. Hỏi gì họ cũng chỉ gật đầu, hoặc mỉm cười rất nhẹ.
Người ta nghĩ chắc họ mệt quá, sợ quá, mất tiếng sau mấy ngày chống bão. Mỗi người được vợ dắt về nhà mình. Bà vợ ông Năm hâm lại nồi cơm, dọn mâm có cá kho, canh rau muống, đúng những món chồng bà thích.
Ông Năm ngồi vào mâm, cầm đũa, ăn chậm rãi, từng miếng một, như người lâu lắm rồi mới được ăn cơm nhà.
Những chi tiết nhỏ không ai nói ra
Bà vợ ông Năm ngồi nhìn chồng ăn, nước mắt chảy dài vì mừng. Rồi bà để ý một điều. Ông Năm cầm đũa bằng tay trái. Bốn mươi năm lấy nhau, bà chưa từng thấy ông cầm đũa tay trái lần nào.
Ở nhà bên, chị vợ của người thuỷ thủ trẻ nhất cũng nhận ra chồng mình rẽ ngôi tóc sang phía bên kia. Ở nhà khác, một bà mẹ thấy nốt ruồi trên má con trai mình nằm ở má phải, chứ không phải má trái.
Họ đều thấy, nhưng không ai nói ra. Có những lúc người ta thà không biết, chỉ cần người mình thương đang ngồi đó, ăn bữa cơm mình nấu.
Ăn xong, năm người đàn ông đều đi nằm. Họ nằm ngay ngắn, mắt nhắm, hơi thở đều đặn. Các bà vợ ngồi canh bên giường, quạt cho chồng, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Buổi sáng chiếc giường còn ẩm
Sáng hôm sau, bà vợ ông Năm tỉnh dậy, giường bên cạnh trống trơn. Tấm chiếu còn ẩm, in một vệt hình người nằm, mùi muối biển nồng nặc. Bà chạy ra bãi. Con tàu sơn xanh không còn ở đó.
Năm nhà, năm chiếc giường trống, năm tấm chiếu ẩm như nhau. Không ai thấy năm người đàn ông đi đâu, không ai nghe tiếng máy tàu. Trên bãi cát chỉ có năm hàng dấu chân trần đi thẳng xuống mép nước, rồi mất.
Cả làng chìm trong im lặng. Người già lắc đầu bảo đó là các anh ấy về báo tin, về ăn bữa cơm cuối. Các bà vợ thắp hương, lập bàn thờ, khóc tới khô nước mắt.
Bà vợ ông Năm thì không lập bàn thờ. Bà nhớ đôi đũa cầm tay trái, và bà không tin chồng mình lại về nhà mà quên mất cả cách cầm đũa.
Giấc mơ của những người trở về
Một tuần sau, điện thoại nhà ông Năm đổ chuông. Biên phòng một tỉnh xa báo tin: một tàu cá sơn xanh, mũi vẽ đôi mắt, hỏng máy, trôi dạt vào một bãi biển vắng cách làng mấy trăm cây số. Cả năm người trên tàu đều còn sống, đói lả nhưng bình an.
Cả làng vỡ oà. Ba ngày sau, năm người đàn ông được xe đưa về. Lần này họ nói, nói không ngớt, kể chuyện chống bão, chuyện trôi dạt, chuyện ăn cá sống uống nước mưa.
Rồi ông Năm kể một chuyện mà cả năm người đều gật đầu. Đêm thứ ba lênh đênh, đói và lạnh, họ nằm co ro trong khoang. Cả năm cùng mơ một giấc mơ giống nhau: được về làng, được ôm vợ con, được ngồi vào mâm ăn một bữa cơm nhà nóng hổi.
Ông Năm gãi đầu, cười ngượng: lạ lắm, trong mơ ông ăn ngon mà cứ thấy đũa ngượng tay, như ai đổi tay mình. Bà vợ ông lặng người, rồi bà đứng dậy, đi xuống bếp, nấu một nồi cơm thật to, bày đúng sáu cái bát.
Câu hỏi thường gặp
Truyền thuyết người hiện về báo tin có phổ biến không?
Có ở rất nhiều nền văn hoá, nhất là các cộng đồng làm nghề nguy hiểm như đi biển. Người ta kể về người thân hiện về đúng lúc gặp nạn ở xa. Những câu chuyện này thường ra đời trong thời gian chờ tin, khi nỗi lo lên tới đỉnh điểm.
Vì sao tàu cá dễ mất liên lạc khi có bão?
Gió mạnh và sóng lớn có thể làm hỏng ăng ten, ngập máy, mất điện trên tàu, khiến bộ đàm và thiết bị định vị ngừng hoạt động. Tàu hỏng máy còn bị sóng đẩy trôi xa khỏi vùng tìm kiếm, nên nhiều ngày sau mới được phát hiện.
Chờ tin người thân sau thiên tai ảnh hưởng tâm lý ra sao?
Không biết người thân còn hay mất là một trong những trạng thái căng thẳng nặng nề nhất. Người chờ thường mất ngủ, giật mình vì mọi tiếng động, dễ nhìn nhầm và nghe nhầm. Có cộng đồng bên cạnh chia sẻ giúp họ chịu đựng tốt hơn.
Hình ảnh như soi gương trong truyện ma có ý nghĩa gì?
Truyện dân gian nhiều nơi có mô típ người song trùng, giống hệt nhưng bị đảo ngược như ảnh trong gương. Chi tiết đảo trái phải là cách người kể báo cho người nghe rằng đó không hẳn là người thật, mà là một hình bóng.
Vì sao người gặp nạn hay mơ thấy được về nhà?
Khi đói, lạnh và sợ hãi, tâm trí thường tìm tới hình ảnh an toàn nhất mà nó biết, đó là gia đình và bữa cơm nhà. Giấc mơ ấy giúp người gặp nạn giữ được hy vọng, và nhiều người sống sót kể lại rằng chính nó cho họ sức để chờ.