Chị tổ trưởng đội hái chè đã đếm đi đếm lại tới lần thứ ba, và lần nào trên đồi sương sáng hôm ấy cũng có mười hai chiếc nón, trong khi sổ chỉ ghi mười một người.
Chào bạn, đây là Chuyện Ma. Truyện tập này là truyện hư cấu, đồi chè, đội hái chè và những người trong truyện đều do mình đặt ra. Đây là một truyện ấm, hợp nghe cùng một chén trà nóng.
Đội hái chè trên đồi
Chị Lan làm tổ trưởng một đội hái chè ở một vùng đồi trung du. Đội có mười hai người, toàn phụ nữ, người trẻ nhất ngoài hai mươi, người lớn nhất gần sáu mươi. Mỗi sáng từ năm giờ, cả đội đội nón, đeo gùi, đi theo những lối mòn lên các quả đồi chè xanh mướt.
Hái chè phải hái sớm, khi búp còn đọng sương, lá non mềm và thơm nhất. Tay người hái thoăn thoắt ngắt một tôm hai lá, bỏ vào gùi sau lưng. Người hái giỏi chỉ cần nhìn là biết búp nào ngon, búp nào già.
Trong đội có chị Hoa, người hái giỏi nhất. Gùi của chị bao giờ cũng đầy trước, búp đều tăm tắp, xanh non như nhau. Chị nhà nghèo, chồng mất sớm, một mình nuôi hai đứa con đi học. Tiền công hái chè tính theo cân, mỗi cân chè búp là một bữa cơm của nhà chị.
Cuối mùa xuân năm ấy, chị Hoa ốm nặng, phải nằm nhà mấy tuần. Đội còn mười một người.
Chiếc nón thứ mười hai
Sáng đầu tiên chị Hoa nghỉ, sương xuống dày đặc. Chị Lan đứng ở đầu đồi đếm người như thường lệ trước khi chia luống. Một, hai, ba, tới mười một. Rồi ở luống cuối cùng, sát mép rừng, có thêm một chiếc nón trắng nữa, nhấp nhô giữa những hàng chè.
Chị Lan nghĩ có ai trong bản đi hái nhờ. Chị gọi to, hỏi ai ở luống cuối. Không ai trả lời. Chiếc nón vẫn cúi xuống, ngẩng lên, đều đặn, đôi tay thoăn thoắt. Sương dày quá, chị không nhìn rõ mặt. Chị định đi tới hỏi thì có người gọi ở luống bên, chị quay đi, quên mất.
Trưa về, cả đội gùi chè xuống lán cân. Chị Lan đếm gùi: mười hai chiếc. Chiếc gùi thứ mười hai đặt ở cuối hàng, đan bằng tre cũ, quai sờn, đầy ắp những búp chè đẹp nhất mà cả đội từng thấy. Không ai nhận là của mình.
Người cân chè hỏi ghi tên ai. Cả đội nhìn nhau. Chị Lan nhìn chiếc gùi, thấy ở quai có buộc một sợi chỉ đỏ nhỏ. Chị không nhớ đã thấy sợi chỉ ấy ở đâu.
Phần chè của người vắng mặt
Người cân đặt chiếc gùi lên bàn cân. Kim cân dừng lại ở một con số. Chị Lan nhìn, rồi lật sổ. Đúng bằng số cân chị Hoa hái được hôm cuối cùng trước khi ốm. Không hơn, không kém một lạng.
Cả đội im lặng. Có người bảo thôi cứ ghi vào tên chị Hoa, chị ấy đang cần tiền. Chị Lan ngẫm nghĩ rồi gật đầu. Chị ghi vào sổ cân: Hoa, hái thay.
Ngày hôm sau, sương vẫn dày. Chị Lan đếm, vẫn mười hai chiếc nón. Lần này chị không gọi. Chị đứng yên nhìn về luống cuối. Chiếc nón trắng vẫn ở đó, đôi tay vẫn thoăn thoắt, không bao giờ ngẩng hẳn lên. Khi nắng lên, sương tan, luống cuối chỉ còn những bụi chè đung đưa trong gió.
Trưa về, lại có mười hai chiếc gùi. Lại là chiếc gùi tre cũ, quai buộc chỉ đỏ, đầy búp đẹp. Lại cân đúng bằng phần của chị Hoa. Cứ thế suốt ba tuần.
Sợi chỉ đỏ
Một tối, chị Lan mang tiền công sang nhà chị Hoa. Chị Hoa đã khá hơn, ngồi dậy được, ngạc nhiên vì mình nằm nhà mà vẫn có tiền. Chị Lan kể lại mọi chuyện. Chị Hoa nghe, lặng đi, rồi hỏi chiếc gùi có buộc sợi chỉ đỏ ở quai phải không.
Chị Lan gật đầu. Chị Hoa bật khóc. Chị kể, hồi chị mới vào đội, còn vụng, hái chậm, có một bà cụ trong đội tên là bà Thoa, người đã hái chè trên đồi này từ hồi còn con gái. Bà dạy chị cách nhìn búp, cách ngắt cho nhanh. Bà đeo một chiếc gùi tre cũ, quai buộc sợi chỉ đỏ, bảo là để nhận ra gùi mình giữa bao nhiêu gùi giống nhau.
Những sáng chị Hoa hái chậm, bà Thoa hay lặng lẽ bốc một nắm chè trong gùi mình bỏ sang gùi chị, để chị đủ cân. Chị biết nhưng không dám nói, sợ bà ngại.
Bà Thoa mất cách đây sáu năm, ở tuổi gần chín mươi. Trước khi mất, bà vẫn còn lên đồi, ngồi ở luống cuối sát mép rừng, hái chậm chậm cho vui tay.
Sáng chị Hoa trở lại
Hết tháng, chị Hoa khỏi bệnh, trở lại đội. Sáng hôm ấy, chị Lan đếm: mười hai người, đúng sổ. Luống cuối sát mép rừng không còn chiếc nón trắng nào. Trưa cân chè, mười hai chiếc gùi, không có chiếc gùi tre cũ quai buộc chỉ đỏ.
Chị Hoa lên luống cuối, nơi bà Thoa ngày xưa hay ngồi. Ở gốc một bụi chè già, chị thấy một nắm búp chè non xanh mướt buộc gọn bằng một sợi chỉ đỏ, đặt ngay ngắn trên một chiếc lá to, sương còn đọng long lanh.
Chị cầm nắm chè lên, mang về sao khô, cất trong một chiếc hộp thiếc nhỏ. Chị không pha. Chị bảo để dành.
Từ đó, đội hái chè có một lệ mới. Mỗi khi có ai trong đội ốm phải nghỉ, cả đội chia nhau hái thêm một ít, bỏ chung vào một chiếc gùi tre buộc chỉ đỏ ở quai, cân vào tên người vắng mặt. Người mới vào đội hỏi lệ ấy từ đâu ra, chị Lan chỉ cười, bảo của một người hái chè thừa ra trên đồi sương.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao đếm người trong sương mù hay bị nhầm?
Sương mù làm mờ đường nét và khoảng cách, những bụi cây, cọc gỗ, chiếc nón treo dễ bị nhìn thành người. Khi đếm một nhóm đang di chuyển, mắt dễ đếm lặp một người hoặc bỏ sót người khác. Trong truyện ma, sai số nhỏ ấy trở thành một người thừa ra.
Vì sao chè thường được hái vào sáng sớm?
Sáng sớm, búp chè còn tươi mát, hơi nước trong lá cao, hương thơm giữ tốt hơn khi chưa bị nắng gắt làm héo. Người hái chè cũng tránh được cái nóng giữa trưa trên đồi trống. Kỹ thuật hái phổ biến là ngắt một tôm hai lá, tức búp non cùng hai lá non dưới nó.
Vì sao truyện ma về người đã khuất hay có hình ảnh giúp đỡ người sống?
Những truyện này phản ánh mong muốn rằng tình nghĩa không mất đi khi người ta qua đời. Người có ơn với cộng đồng thường được nhớ tới qua những câu chuyện họ vẫn tiếp tục giúp người. Đó vừa là cách tưởng nhớ, vừa nhắc người sống giữ nếp tương trợ.
Vì sao đồ vật nhỏ như sợi chỉ đỏ lại có ý nghĩa trong truyện?
Một chi tiết nhỏ và riêng biệt giúp nhận diện một người, giống như dấu hiệu chỉ người thân mới biết. Trong truyện kể, chi tiết ấy làm cầu nối giữa cái kỳ lạ và ký ức có thật, khiến người nghe tin vào câu chuyện hơn.
Nghề hái chè vất vả thế nào?
Người hái chè phải dậy từ tờ mờ sáng, leo đồi dốc, đứng cúi nhiều giờ liền, chịu sương lạnh rồi nắng gắt. Công thường tính theo số cân, nên tay nghề và sức khỏe quyết định thu nhập. Vì vậy tình đoàn kết trong một đội hái chè rất quý.